- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Trần Hoàng K.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28-02-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương.
2. Bà Phan Thị Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 368/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 108/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ H, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2. Bị đơn: Ông Trần Hoàng K, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ M, thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa cấp sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Khoảng năm 2012, qua bạn bè giới thiệu, bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K quen biết nhau. Sau thời gian tìm hiểu khoảng một năm, được hai bên gia đình đứng ra tổ chức lễ cưới cho bà T và ông K. Bà T và ông K tự nguyện sống chung với nhau, tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 quyển số 01/2014 ngày 03/7/2014.
Quá trình chung sống hạnh phúc, cũng có nhiều bất đồng. Đến đầu năm 2023, ông K không còn lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Kinh tế gia đình khó khăn, ông K nhậu nhẹt, say sỉn về kiếm chuyện với vợ con. Nay vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn không thể hàn gắn được, không cùng quan điểm sống. Vợ chồng mâu thuẫn cũng không nhờ chính quyền hòa giải, can thiệp. Ông K và bà T đã sống ly thân đến nay cũng gần năm. Từ ngày sống ly thân ông K không qua lại thăm nom con, cũng không chu cấp cho con.
Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau:
Về quan hệ hộn nhân: Bà T được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K có một con chung là Trần Nguyễn Thụy Yến N, sinh ngày 12/12/2014. Hiện cháu N đang sống với bà T, bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện bà T đang làm phụ bếp cho công ty, thu nhập khoảng 5.000.000 đồng và thu nhập làm thêm, có anh chị em hỗ trợ cho cháu. Bà T được biết ông K làm phụ hồ, ngày đi ngày nghỉ, trước đó cũng không hỗ trợ, đóng góp phụ bà T chăm con. Nay ly hôn, bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu ông Trần Hoàng K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị đơn ông Trần Hoàng K trình bày:
Kết quả xác minh tại Công an xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết ông K có hộ khẩu tại địa phương và hiện đang sinh sống tại địa phương. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K, nhưng ông K không tham gia tố tụng và không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
3. Tại phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị T không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu ly hôn của bà T. Giao con chung cho bà T nuôi dưỡng. Về tài sản và các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Trần Hoàng K, địa chỉ: Xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn ông ông Trần Hoàng K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt Ông Trần Hoàng K.
Về nội dung bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Trần Hoàng K, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị T thừa nhận bà và ông Trần Hoàng K tự nguyện đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thị xã P), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 quyển số 01/2014 ngày 03/7/2014, nên hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng, bà T trình bày vợ chồng không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cả hai đã sống ly thân gần năm. Quá trình giải quyết vụ án, ông K không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà T, không tham gia hòa giải đoàn tụ, không mong muốn cùng nhau xây dựng gia đình. Xét thấy, bà T yêu cầu ly hôn với ông K vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống không thể kéo dài là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, cấp dưỡng nuôi con:
Bà Nguyễn Thị T xác định vợ chồng có một con chung là Trần Nguyễn Thụy Yến N, sinh ngày 12/12/2014, là phù hợp với giấy khai sinh của cháu.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T yêu cầu trực tiếp nuôi và không yêu cầu ông Trần Hoàng K cấp dưỡng nuôi con, bà T có đủ điều kiện để nuôi con. Ông Trần Hoàng K không có tranh chấp về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn.
Xét thấy, cháu Nguyễn Thụy Yến N có nguyện vọng ở với mẹ, hiện cháu đang sinh sống cùng với bà T. Ông K không tranh chấp con. Để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu, cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T giao con chung là cháu Nguyễn Thụy Yến N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông K không cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với Ông Trần Hoàng K.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Trần Hoàng K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Trần Hoàng K.
2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là Trần Nguyễn Thụy Yến N, sinh ngày 12/12/2014 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Hoàng K không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, ông Trần Hoàng K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Hoàng K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007489 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thị hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà Nguyễn Thị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2024), đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND TX. Phú Mỹ, tỉnh BR-VT; - UBND xã T, TX.P; - Lưu: hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Việt Hà |