vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T. Chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng T2; [3] Về con chung: Giao con Nguyễn Tường V, sinh ngày 17/04/2010 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lh"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH
Bản án HNGĐ sơ thẩm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 10/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 21/01/2025
-------------
V/v: Tranh chấp về HN&GĐ.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị T; Bà Nguyễn Thị Minh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Cẩm Vân- Thư ký Tòa án.
sát viên.
phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST - HNGĐ,
ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024; Quyeetss định hoãn phiên tòa
số 09 ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh năm 1983; (Có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1999; (Vắng mặt)
Cùng trú tại: TC, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Du mở

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Trương Thị T có lời khai trình bày: Chị kết hôn với anh T2 năm 2004 do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Chi, huyện Tiên Du. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với gia đình chồng tại xã Tân Chi, huyện Tiên Du. Cuộc sống vợ chồng ổn định đến khoảng năm 2021-2022 thì phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân mâu Tẫn do anh T2 thiếu quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung nên cuộc sống không có sự trao đổi giữa hai bên, tình cảm vợ chồng không còn nữa. Năm 2023 chị về nhà đẻ ở vợ chồng ly thân nhau. Thời gian vợ chồng sống ly thân chị và anh T2 không liên lạc, hỏi thăm gì nhau. Gia đình hai bên thời gian đầu có khuyên vợ chồng chị nhưng về sau mọi người không khuyên nữa. Chị nhận thấy mâu Tẫn không thể hàn gắn được. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn xin ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung:

Nguyễn Trọng D, sinh năm 2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Nguyễn Tường V, sinh ngày 17/04/2010 còn đang đi học và hiện vẫn đang ở cùng mẹ tại nhà ngoại. Vợ chồng ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu Tường V. Không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con.

Công việc của chị đang làm tại KCN Tân Chi (làm hành chính) với mức T nhập khoảng 09 triệu đồng/01 tháng. Chị đảm bảo đủ điều kiện để chăm lo được cho con. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Không yêu cầu giải quyết;

Phía bị đơn Tòa án đã giao thông báo nhiều lần, các thông báo của Tòa án đã được Công an xã Tân Chi, huyện Tiên Du giao cho anh T2; anh T2 biết rõ việc Tòa án đang giải quyết nhưng anh T2 luôn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai, không công bố chứng cứ và hòa giải được giữa anh chị.

Tại phiên tòa Nguyên đơn giữ nguyên quan điểm khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt hai lần không có lý do nên phiên tòa tiếp tục xét xử theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã phát biểu ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với bị đơn vắng mặt tại quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa không có lý do nên chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Đại diện VKS nhân dân huyện Tiên Du đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Trương Thị T. Chị T được ly hôn anh T2.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tường V, sinh ngày 17/04/2010 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở

Tài sản chung, công nợ chung, trích chia công sức: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng: Chị Trương Thị T làm đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Trọng T2, anh T2 có HKTT và hiện đang cư trú tại Thôn Tân Chi, xã Tân Chi, huyện Tiên Du nên xét việc Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng thẩm quyền theo quy định;

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi thông báo hợp lệ đến anh T2 nhưng anh luôn vắng mặt không có lý do. Ngày 24/12/2024 Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Công an xã Tân Chi đã giao Quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và xác định mọi giấy tờ, thông báo của Tòa án gửi về giao cho anh T2 tuy nhiên anh T2 vẫn vắng mặt. Lần vắng mặt tại phiên tòa lần này là lần thứ hai nên vụ án được đưa ra xét xử theo quy định tại Điều 227 BLTTDS.

Về nội dung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Trọng T2 kết hôn năm 2004. Anh chị có đăng ký kết hôn, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn;

. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T thì thấy: Cuộc sống vợ chồng chị thực sự xảy ra mâu Tẫn. Nguyên nhân mâu Tẫn theo chị trình bày là do anh T2 thiếu quan tâm đến gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung nên cuộc sống không có sự trao đổi giữa hai bên trở nên lạnh nhạt, tình cảm vợ chồng dần không còn. Anh T2 biết rõ việc Tòa án huyện Tiên Du thụ lý giải quyết nhưng luôn cố tình vắng mặt trong quá trình làm việc cũng như phiên tòa nên xác định anh T2 tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc anh T2 bỏ mặc không tham gia, không có bất kỳ văn bản trình bày nào phản hồi ý kiến của anh trong quá trình Tòa án giải quyết thể hiện rõ anh T2 không có ý định níu kéo duy trì hôn nhân với chị T. Xét thấy, mâu Tẫn vợ chồng giữa anh chị là có thực. Mức độ mâu Tẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình xét thấy cần chấp nhận đơn ly hôn của chị T, xử cho chị được ly hôn anh T2 là phù hợp.

. Về con chung: Anh chị có 02 con chung: Con lớn Nguyễn Trọng D, sinh năm 2005 đã trưởng thành không đề cập giải quyết.

Con thứ hai: Nguyễn Tường V, sinh ngày 17/04/2010.

Chị T có nguyện vọng muốn được nuôi cháu Tường V. Đối với việc chị T xin được nuôi cháu Tường V xét thấy cháu Tường V là con gái điều kiện phát triển tâm sinh lý khi trưởng thành cần có sự hỗ trợ từ mẹ. Cháu Tường V cũng có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Về công việc và cuộc sống của chị T ổn định đủ điều kiện để chăm lo được cho con. Anh T2 không đến làm việc tại Tòa án nên về công việc và T nhập của anh không làm rõ được; Xét thấy, từ điều kiện hoàn cảnh của anh T2 và chị T cần giao cháu Tường V cho chị T nuôi sau khi anh chị ly hôn là phù hợp;

Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu nên không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật;

Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 266, 267, 269, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị T. Chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Trọng T2;

[3] Về con chung: Giao con Nguyễn Tường V, sinh ngày 17/04/2010 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;

Việc cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết;

Anh T2 được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001608 ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án huyện Tiên Du.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ