- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ THị P yêu cầu ly hôn anh L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P được ly hôn anh Đinh Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày 18-02-2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY- TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Ông Đặng Minh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205 /2024/TLST - HNGĐ ngày 28-10-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31-12-2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17-01-2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị P, sinh năm 1984 – vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn L, sinh năm 1981 – vắng mặt lần thứ hai không có lý do
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25-10-2024 và bản tự khai, nguyên đơn chị Vũ Thị P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Đinh Văn L tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 06-7-2009. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại Thôn Q, xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái, tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Liên rượu chè, cờ bạc, không tu chí làm ăn, thường xuyên mắng chửi vợ con. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không hỏi han quan tâm đến nhau. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Đinh Văn L không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn cho anh Đinh Văn L.
Về con chung: Chị và anh Đinh Văn L có 01 con chung là Đinh Thùy Ng (sinh ngày 11-6-2010). Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu anh Liên cấp dưỡng nuôi con chung. Từ khi sống ly thân, chị tự mình chăm sóc, nuôi dưỡng hai con, anh Liên không quan tâm, chăm sóc con chỉ thỉnh thoảng có hỏi thăm con.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện TY đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Tuy nhiên bị đơn anh Đinh Văn L không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của anh Liên và Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luât trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên toà, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, quyền và lợi ích của đương sự được đảm bảo. Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P được ly hôn anh Đinh Văn L.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Đinh Thùy Ng (sinh ngày 11-6-2010) cho chị Vũ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đinh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Vũ Thị P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền các kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đinh Văn L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn Q, xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái nên yêu cầu giải quyết ly hôn của chị Vũ Thị P thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Vũ Thị P có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Đinh Văn L được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P và anh Đinh Văn L có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái vào ngày 06-7-2009 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại Thôn Q, xã H, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Theo chị Phấn, anh chị chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Liên thường xuyên rượu chè, cờ bạc, không quan tâm đến gia đình, không tu chí làm ăn, chửi mắng lăng mạ vợ con. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái đã thông báo nhiều lần nhưng anh Liên không đến Tòa, như vậy anh Liên đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng của bản thân.
Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị Phấn và anh Liên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho chị Vũ Thị P được ly hôn anh Đinh Văn L theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Chị Vũ Thị P và anh Đinh Văn L có 01 con chung là Đinh Thùy Ng (sinh ngày 11-6-2010). Ly hôn, chị Phấn có nguyện vọng được nuôi con, anh Liên không có lời khai thể hiện nguyện vọng được nuôi con. Ngoài ra cháu Đinh Thùy Ng cũng có nguyện vọng được ở với chị Vũ Thị P. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần giao cháu Đinh Thùy Ng cho chị Vũ Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác là phù hợp.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị P không yêu cầu anh Đinh Văn L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị Vũ Thị P xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đinh Văn L chưa có lời khai. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản và nợ chung.
Về án phí: Chị Vũ Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P được ly hôn anh Đinh Văn L.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đinh Thùy Ng (sinh ngày 11-6-2010) cho chị Vũ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đinh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị Vũ Thị P đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2024/000556 ngày 25-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TY, tỉnh Yên Bái. Chị Vũ Thị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện TY; - Chi cục THADS huyện TY; - Các đương sự; - UBND xã H; - Lưu HS, TA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Duy |