- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn""
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 5 năm 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Tám
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thế Anh
2. Ông Hà Văn Cho
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhản - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Trương Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Ngân Thị H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Bản V, xã Y, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lương Văn P, sinh năm 1985
Địa chỉ: Bản M, xã Y, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 21/11/2023, được bổ sung trong bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Ngân Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lương Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, đăng kí kết hôn tại UBND xã Y, huyện L, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/12/2010 và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2010 ngày 30/12/2010. Sau khi hôn vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh P không quan tâm vợ con, thường xuyên tụ tập rượu chè say xỉn rồi chửi bới, đánh đập vợ con nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung ngày càng căng thẳng. Khi mâu thuẫn xảy ra, gia đình nội ngoại đã động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do không chịu đựng được nên đến năm 2015 chị và anh P ly thân, từ đó đến nay không ai quan tâm ai. Nay chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về con chung: Chị và anh P có 03 con chung là các cháu Lương Văn T, sinh ngày 19/02/2009; Lương Trung D, sinh ngày 18/6/2010 và Ngân Chí T1, sinh ngày 11/7/2023. Hiện nay cháu T và cháu D đang ở cùng anh P, cháu T1 đang ở với chị. Chị đề nghị giao cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Lương Văn T và Lương Trung D; chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngân Chí T1, chị và anh P không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị Ngân Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú của đương sự về một số nội dung có liên quan trong vụ án, kết quả xác minh:
Về địa chỉ cư trú và sự có mặt, vắng mặt tại nơi cư trú của bị đơn: Đại diện bản cho biết, anh Lương Văn P đăng ký thường trú tại bản Mè, xã Y, huyện L, anh P không đăng ký tạm trú ở nơi khác; không xin tạm vắng tại nơi cư trú; đến nay anh P chưa thay đổi nơi đăng ký cư trú, không bị xóa đăng ký thường trú; anh P là lao động tự do, hiện đang làm ăn tại xã Y, huyện L, nơi làm việc không cố định, nhưng vẫn thường xuyên đi, về thăm nhà.
Về nguyên nhân phát sinh tranh chấp: Đại diện bản không có thông tin về mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ngân Thị H và anh Lương Văn P. Tuy nhiên, hiện nay chị H và anh P đã ly thân, chị H cư trú cùng bố mẹ đẻ tại xã Y, còn anh P cư trú tại xã Y và làm ăn tại xã Y.
Về con chung và điều kiện nuôi con: Chị H và anh P có con chung, số con chung, họ tên và ngày tháng năm sinh của các cháu đại diện bản không biết rõ. Hiện nay cháu T và cháu D đang ở cùng ông bà nội, được ông bà nội hỗ trợ về ăn uống và sinh hoạt hàng ngày. Cả chị H và anh P đều là công dân tốt, luôn chấp hành quy định của pháp luật, nội quy của địa phương, nhưng đều không có việc làm và thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế thuộc diện có khó khăn. Nơi cư trú của chị H và anh P có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuộc khu vực khó khăn của huyện.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn không có yêu cầu phản tố vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện tham gia phiên tòa và không có lý do.
Tại phiên toà, Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; nơi cư trú của bị đơn tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn Lương Văn P vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của chị Ngân Thị H và Bản sao Trích lục kết hôn số 221/TLKH-BS ngày 24/11/2023 do UBND xã Y, huyện L, tỉnh Thanh Hóa cấp, đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngân Thị H và anh Lương Văn P là hợp pháp.
. Xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, chị H đều có nguyện vọng được ly hôn anh P; anh P không có ý kiến. Căn cứ lời trình bày của chị H thì giữa chị H và anh P thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh P không quan tâm vợ con, không tu trí làm ăn mà thường xuyên tụ tập rượu chè rồi chửi bới, đánh đập vợ con. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình hai bên động viên, khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả; vợ chồng đã ly thân một thời gian dài nhưng tình cảm không được cải thiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh P; anh P không đến Tòa án tham gia hòa giải giải quyết mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh P không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, quyết định cho chị H được ly hôn anh P.
. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Ngân Thị H và bản sao Giấy khai sinh của cháu T, cháu D và cháu T1, đủ cơ sở xác định: Các cháu Lương Văn T, sinh ngày 19/02/2009; Lương Trung D, sinh ngày 18/6/2010 và Ngân Chí T1, sinh ngày 11/7/2023 là con chung của chị H và anh P.
Xét đề nghị của chị H về việc giao nuôi con, thấy: Chị H và anh P có 03 con chung, các cháu Lương Văn T và Lương Trung D đã trên 10 tuổi, có thể tự chăm sóc được bản thân và đều có nguyện vọng được ở với anh P; còn cháu Ngân Chí T1 chưa đủ 36 tháng tuổi. Mặt khác, cả chị H và anh P đều chưa có việc làm, thu nhập ổn định và thuộc diện có điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, nếu giao cả 03 con cho một người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ gây khó khăn cho người đó và không đảm bảo được quyền lợi của các cháu. Để các cháu được yêu thương, được chăm sóc đầy đủ, có điều kiện phát triển một cách tốt nhất về mọi mặt và không làm xáo trộn cuộc sống, nên việc giao nuôi con theo đề nghị của chị H là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Giao cháu Ngân Chí T1 cho chị H; giao các cháu Lương Văn T và Lương Trung D cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H, anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
. Về tài sản: Chị Ngân Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Ngân Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Chị Ngân Thị H được ly hôn anh Lương Văn P.
Về con chung: Giao cháu Ngân Chí T1, sinh ngày 11/7/2023 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao các cháu Lương Văn T, sinh ngày 19/02/2009; Lương Trung D, sinh ngày 18/6/2010 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, chị H và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H, anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0006601 ngày 11/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lang Chánh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn Ngân Thị H; vắng mặt bị đơn Lương Văn P. Chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lang Chánh; - UBND xã Y, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; - Phòng KTNV và THAHS; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Viết Tám |