vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Vân A và anh Nguyễn Văn M.

Về nuôi con chung: Giao con giao con Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021 cho chị Vân A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh M có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị A và anh M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Vân A và anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2024
V/v: Ly hôn giữa
chị Vân A và anh M.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nơi

2. Ông Tống Xuân Tú

- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Giang - Kiểm sát viên Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179A/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Vân A, sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình

(Chị Vân A1 có mặt; anh M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Vân A trình bày:

Chị và anh M kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2020 tại UBND xã H, huyện H, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M thường xuyên đi làm ăn xa, không quan tâm đến vợ con, dẫn đến vợ chồng phai nhạt tình cảm, vợ chồng đã nhiều lần khắc phục nhưng không có kết quả; nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh M. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021, ly hôn chị xin nhận nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai ngày 25/7/2023, bị đơn anh Nguyễn Văn M trình bày:

Anh và chị Vân A1 kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/7/2020 tại UBND xã H, huyện H, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 20/5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh đi làm xa, tiền lương lại không đưa cho vợ, anh đã khắc phục bằng cách hàng tháng gửi tiền về nuôi con theo như chị Vân A1 yêu cầu, số tiền còn lại thì đến tết anh mới lấy của Công ty về đưa cho vợ; vợ chồng không sống ly thân nhưng do đặc thù công việc phải đi làm ăn xa, khi nào có công việc thì anh mới về nhà. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết hàn gắn để vợ chồng cùng hiểu nhau, nuôi dạy con cái. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021, nếu ly hôn, anh xin nhận nuôi con và không yêu cầu chị Vân A1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Vân A được ly hôn anh Nguyễn Văn M; về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021 cho chị Vân A1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Vân A1, anh M có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Chị Vân A1 phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị Vân A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn Văn M. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Anh M đăng ký nhân khẩu tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; anh M vắng mặt lần thứ hai không có lý do; Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh M là đúng với khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Vân A1, anh M kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 30-7-2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự tin tưởng và quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm phai nhạt. Chị Vân A1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn; anh M không đến Tòa án để làm việc chứng tỏ anh cũng không mong muốn đoàn tụ vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy: Vợ chồng chị Vân A1, anh M mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Vân A1 được ly hôn anh M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Vân A1 và anh M có 01 con chung là Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021; chị Vân A1 có nguyện vong nuôi con và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con, anh M cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng không đến Tòa án để làm việc; xét yêu cầu xin nuôi con của chị Vân A1, anh M thấy rằng: Hiện nay con chung đang ở ổn định với chị Vân A1, để đảm bảo quyền lợi của con chung nên giao con Nguyễn Hải Đ cho chị Vân A1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh M có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.

Về chia tài sản: Chị Vân A1, anh M không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Vân A1 phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị Vân A và anh Nguyễn Văn M.

2. Về nuôi con chung: Giao con giao con Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 21/12/2021 cho chị Vân A1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến năm 18 tuổi, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh M có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị Vân A phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Vân A1 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004228 ngày 06-7-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị Vân A1 đã nộp đủ tiền án phí).

4. Quyền kháng cáo: Chị Vân A1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên anh; anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ