vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân Dương Thị Kim Yến- Trần Hải Đăng"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
HUYỆN HOÀ BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-02-2024
V/v Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên

Các hội thẩm nhân dân:

1/- Ông Tô Hùng Dũng

2/- Ông Liêu Tài Ngoánh

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 01 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Kim Y, sinh năm 1999

Địa chỉ: Ấp L, xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Trần Hải Đ, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp T, xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Chị Y có đơn xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 07 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Dương Thị Kim Y trình bày: Chị Dương Thị Kim Y và anh Trần Hải Đ xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2021, đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Quá trình chung sống chị Y và anh Đ có 01 (một) con chung tên: Trần Khánh V, sinh ngày 03/10/2021. Hiện cháu V đang sống cùng với chị Y.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị Y và anh Đ là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2023 đến nay.

Nay, chị Dương Thị Kim Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh Trần Hải Đ; Về con chung: Yêu cầu nuôi con chung là cháu Trần Khánh V, sinh ngày 03/10/2021, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị Y không còn có yêu cầu gì khác.

Đối với anh Trần Hải Đ không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, anh Đ cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của chị Dương Thị Kim Y theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho anh Đ, nhưng anh Đ không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

* Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung đề xuất: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị Kim Y.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Khánh V, sinh ngày 03/10/2021 cho chị Dương Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Hải Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Dương Thị Kim Y không yêu cầu. Anh Trần Hải Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.

4. Án phí: Chị Dương Thị Kim Y phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Dương Thị Kim Y khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Hải Đ nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Hải Đ có nơi cư trú tại ấp T, xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, chị Dương Thị Kim Y có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Trần Hải Đ vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho anh Đ để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Y và anh Đ theo quy định, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Y và anh Đ.

Về hôn nhân: Chị Y và anh Đ xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2021, đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và đã được Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 20/05/2022. Vì thế, hôn nhân giữa chị Y và anh Đ là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Chị Y xác định: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Y và anh Đ là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 06 năm 2023 đến nay. Từ khi sống ly thân với nhau, chị Y và anh Đ đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được, nên chị Y yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Y và anh Đ không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại chị Y và anh Đ đã phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Đối với anh Đ, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ anh Đ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt không có lý do. Trong suốt quá trình xét xử vụ án, chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đ, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị Y và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Dương Thị Kim Y đối với anh Trần Hải Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Y và anh Đ có 01 (một) con chung tên: Trần Khánh V, sinh ngày 03/10/2021. Hiện cháu V đang sống cùng với chị Y, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu V. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt, không có ý kiến.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Xét thấy, tại thời điểm giải quyết, cháu V dưới 36 tháng tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt, không có ý kiến, đồng thời, anh Đ cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh chị Y không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu V. Ngoài ra, chị Y và anh Đ cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện giữa chị Y và anh Đ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của cháu V. Trong khi đó, cháu V hiện đang sống ổn định cùng với chị Y, cháu vẫn phát triển bình thường. Vì vậy, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu V, nên cần tiếp tục giao cháu V cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng: Chị Y không yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Y xác định chị Y và anh Đ không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thị Kim Y đối với anh Trần Hải Đ, xử cho ly hôn giữa chị Dương Thị Kim Y và anh Trần Hải Đ.

2/- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Trần Khánh V, sinh ngày 03/10/2021 cho chị Dương Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Trần Hải Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Dương Thị Kim Y không yêu cầu.

Anh Trần Hải Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Dương Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Dương Thị Kim Y đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004956 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ