vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ng được ly hôn với anh Y Yu. Về con chung: Giao con chung là cháu Y Y S sinh ngày 22/8/2017 cho chị H Ng trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Y Y S đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H Ng - Y Yu"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ M’GAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24/01/2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Nở.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Duy Thanh.

2. Ông Y Tha Mlô.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 343/2023/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST- DS, ngày 04 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H Ng, sinh năm 199x (có mặt).

Địa chỉ: Buôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đ.

- Bị đơn: Anh Y Yu, sinh năm 199x (vắng mặt).

Địa chỉ: Buôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị H Ng trình bày:

Chị H Ng và anh Y Yu kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Đ vào ngày 11/9/2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Y Yu thường xuyên uống rượu say xỉn, chửi bới, đánh đập vợ con, bỏ bê công việc nhà, chung sống với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con. Hiện nay, chị H Ng và anh Y Yu không còn chung sống với nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H Ng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Y Yu.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị H Ng và anh Y Yu có 01 con chung là cháu Y Y S sinh ngày 22/8/2017, cháu Y Y S phát triển khỏe mạnh bình thường. Hiện nay, cháu Y Y S còn nhỏ và đang được chị H Ng chăm sóc nuôi dưỡng nên chị H Ng có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y Y S cho đến khi cháu Y Y S trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H Ng không yêu cầu anh Y Yu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Y Yu đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị H Ng, giải quyết cho chị H Ng được ly hôn với anh Y Yu.

Về con chung: Giao con chung là cháu Y Y Ssinh ngày 22/8/2017 cho chị H Ng chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H Ng không yêu cầu anh Y Yu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị H Ng có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị H Ng khởi kiện yêu cầu giải quyết Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn anh Y Yu cư trú tại buôn B, xã C, huyện C, tỉnh Đ là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Y Yu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Y Yu theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ng và anh Y Yu kết hôn tuân thủ đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo nguyên đơn chị H Ng trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Y Yu thường xuyên uống rượu say xỉn, chửi bới, đánh đập vợ con, bỏ bê công việc nhà, chung sống với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con. Hiện nay, chị H Ng và anh Y Yu không còn chung sống với nhau, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H Ng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Y Yu.

Qua xác minh được chính quyền địa phương cung cấp về tình trạng hôn nhân giữa chị H Ng và anh Y Yu, như sau: Trong thời gian chị H Ng và anh Y Yu chung sống với nhau thì anh Y Yu thường xuyên uống rượu, chửi bới, đánh đập chị H Ng, không chăm lo cho gia đình. Chị H Ng và anh Y Yu không còn chung sống với nhau khoảng 01 năm nay. Chị H Ng hiện tại đang qua lại với người đàn ông khác và anh Y Yu hiện tại đang qua lại với người phụ nữ khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh Y Yu đến Tòa án để giải quyết vụ án, tạo điều kiện cho chị H Ng và anh Y Yu gặp gỡ giải quyết những mâu thuẫn tình cảm để đoàn tụ nhưng anh Y Yu vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ anh Y Yu không quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có căn cứ để xác định mâu thuẫn tình cảm của vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận cho chị H Ng được ly hôn với anh Y Yu là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H Ng và anh Y Yu có 01 con chung là cháu Y Y S sinh ngày 22/8/2017, cháu Y Y S phát triển khỏe mạnh bình thường. Chị H Ng có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện cháu Y Y S đang được chị H Ng chăm sóc nuôi dưỡng và cháu Y Y S hiện nay con nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H Ng, giao cháu Y Y S cho chị H Ng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H Ng không yêu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H Ng phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H Ng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H Ng được ly hôn với anh Y Yu.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Y Y S sinh ngày 22/8/2017 cho chị H Ng trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi cháu Y Y S đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Anh Y Yu có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh Y Yu thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị H Ng phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị H Ng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0014587 ngày 29/9/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ