- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Hạ - Sơn"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Thanh S về việc tranh chấp “Ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 02 - 2024. V/v tranh chấp: Ly hôn giữa bà H và ông S. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TỈNH LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tài
2. Ông Phạm Đức Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số 53/10 Cát Quế, Tổ 20, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (có mặt).
* Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số 53/10 Cát Quế, Tổ 20, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
* Về hôn nhân:
Bà H và ông S tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 10/6/2002. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn; ông S có quan hệ với người đàn bà khác, bà H đã cố gắng hàn gắn nhưng ông S vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn nên từ tháng 11/2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông S.
Còn ông S mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy không có lời khai của ông S tại Tòa án.
* Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Trần Thanh C1, sinh ngày 01/03/2003 và cháu Trần Thanh C2, sinh ngày 05/4/2006. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nhận nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Trần Thanh C2 cho đến khi đủ tuổi thành niên; Bà H không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn cháu Trần Thanh C1 hiện nay đã đủ tuổi thành niên nên bà H không yêu cầu giải quyết.
* Về tài sản chung: Bà H trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Bà H trình bày vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng giải quyết về việc tranh chấp “Ly hôn” với ông Trần Thanh S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Trần Thanh S đã được triệu tập hợp lệ (niêm yết) nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 10/6/2002. Hôn nhân được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S là hoàn toàn hợp pháp.
Quá trình chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn; ông S có quan hệ với người đàn bà khác, bà H đã cố gắng hàn gắn nhưng ông S vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn nên từ tháng 11/2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, cuộc sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông S. Còn ông S mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông S không có nguyện vọng mong muốn được trở về đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, xử cho bà H được ly hôn với ông S.
Về con chung: Bà H trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Trần Thanh C1, sinh ngày 01/03/2003 và cháu Trần Thanh C2, sinh ngày 05/4/2006. Khi ly hôn bà H yêu cầu được nhận nuôi dưỡng 01 con chung là cháu Trần Thanh C2 cho đến khi đủ tuổi thành niên. Còn cháu Trần Thanh C1 hiện nay đã đủ tuổi thành niên nên bà H không yêu cầu giải quyết.
Xét thấy, hiện nay cháu Trần Thanh C2 còn nhỏ, đang có cuộc sống ổn định với bà H. Bà H cho rằng mình có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì vậy, để không ảnh hưởng đến cuộc sống hiện tại cũng như tâm lý của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của bà H về việc nhận nuôi dưỡng con chung; giao cháu Trần Thanh C2 cho bà H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ tuổi thành niên.
Còn cháu Trần Thanh C1 hiện nay đã đủ tuổi thành niên, bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu nên ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà H trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về nợ chung: Bà H trình bày vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về án phí: Bà H tự nguyện chịu 300.000đ tiền án phí phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với ông Trần Thanh S về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Xử cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Trần Thanh S.
2/ Về con chung:
Giao 01 con chung là cháu Trần Thanh C2, sinh ngày 05/4/2006 cho bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Trần Thanh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Còn cháu Trần Thanh C1, sinh ngày 01/03/2003 hiện nay đã đủ tuổi thành niên, bà Nguyễn Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Về quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3/ Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng tự thỏa thuận chia và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
4/ Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001375 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
5/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/02/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - UBND thị trấn L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Đức Trường |