vanban.org

Bản án 10/2024/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 16/07/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D.

Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện N. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà V ơng Thúy V. Bà V ơng Thúy V đ ợc ly hôn ông Nguyễn Tiến D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn; Nuôi con khi ly hôn giữa bà Vương Thúy V và ông Nguyễn Tiến D"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 16-7-2024
V/v: Ly hôn; Tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành ph n Hội đồng x t xử ph c thẩm gồm c

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu

Các Thẩm phán:

Bà Ngô Thị Trang

Bà Phạm Thị Anh Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà V Thị Hải Thu - Th ký Tòa án nhân dân t nh Ninh Thu n.

- Đại diện Viện i m sát nhân dân t nh Ninh Thuận Bà Huỳnh Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Ninh Thu n xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 07/2024/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện N, t nh Ninh Thu n bị kháng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đ ơng sự:

1. Nguyên đơn Bà V ơng Thúy V, sinh năm: 1985;

Địa ch : Thôn T, xã Q, huyện N, t nh Ninh Thu n.

Chỗ ở hiện nay: Khu phố H, thị trấn T, huyện N, t nh Ninh Thu n.

2. Bị đơn Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1972.

Địa ch : Thôn T, xã Q, huyện N, t nh Ninh Thu n.

3. Người kháng cáo Ông Nguyễn Tiến D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30/9/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Vương Th y V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tiến D sau một thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N, t nh Ninh Thu n, theo Giấy chứng nh n kết số: 01 ngày 02/01/2014. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, mâu thuẫn kéo dài từ đó cho đến nay, không còn quan tâm lẫn nhau, hai ng ời không còn sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà xin ly hôn với ông Nguyễn Tiến D.

Về con chung: Bà và ông D có 01 con chung là Nguyễn Nữ Thanh T, sinh ngày 22/10/2014. Tr ờng hợp đ ợc Tòa án giải quyết ly hôn, bà yêu cầu đ ợc nuôi d ỡng cháu T và không yêu cầu ông D cấp d ỡng nuôi con chung. Hiện bà là giáo viên, l ơng hàng tháng 9.000.000 đồng/tháng, có đủ khả năng chăm sóc, nuôi d ỡng cháu.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai ng ời đã thỏa thu n chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Tiến D trình bày:

Ông thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bà V về quan hệ hôn nhân, về con chung và về tài sản chung, tuy nhiên ông không đồng ý về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng.

Ông thừa nh n trong thời gian ông và bà V chung sống có phát sinh mâu thuẫn nh ng không đáng kể, nguyên nhân là bà V không sinh con thứ hai cho ông, không tôn trọng chồng nh tiên l ơng hàng năm không báo, đi đâu làm gì c ng không cho ông biết, th ờng xuyên hay đi sớm về muộn, ít quan tâm gia đình, không tham gia các hoạt động tôn giáo mà cam kết tr ớc khi lấy chồng, bản thân ông không vi phạm gì lớn về chuyện gia đình nên ông không đồng ý ly hôn. Hơn nữa, nguyên nhân bà V đ a ra không thuyết phục và bà V ch a biết lỗi sai của mình.

Tr ờng hợp Tòa án vẫn chấp nh n yêu cầu ly hôn của bà V thì ông xin đ ợc nuôi cháu T và yêu cầu bà V cấp d ỡng nuôi con chung hàng tháng 30% l ơng và thu nh p ngoài l ơng của bà V. Hiện nay, ông làm nghề tự do, mỗi tháng thu nh p bình quân 7.000.000 đồng/tháng.

Tại bản án hôn nhân gia đình số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện N đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 và 483 của Bộ lu t Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, 82 và 83 của Lu t Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà V ơng Thúy V. Bà V ơng Thúy V đ ợc ly hôn ông Nguyễn Tiến D.

2. Về con chung: Giao cho bà V ơng Thúy V là ng ời trực tiếp nuôi d ỡng 01 con chung, tên là: Nguyễn Nữ Thanh T, sinh ngày 22/10/2014.

3. Ông Nguyễn Tiến D không có nghĩa vụ cấp d ỡng nuôi con chung vì bà V ơng Thúy V không yêu cầu.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền, nghĩa vụ của các bên thi hành án và quyền kháng cáo của đ ơng sự.

Ngày 05/4/2024, ông D kháng cáo bản án sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện N với nội dung: Ông D không đồng ý ly hôn với bà V. Tr ờng hợp Tòa án cấp phúc thẩm vẫn chấp nh n yêu cầu xin ly hôn của bà V thì đề nghị giao con chung là Nguyễn Nữ Thanh T cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi d ỡng và yêu cầu bà V cấp d ỡng nuôi con chung là 4.000.000 đồng/tháng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Ninh Thu n phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Th ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ lu t tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phần tranh lu n tại phiên tòa của các bên đ ơng sự, đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng dân sự, bác toàn bộ kháng cáo của ông D. Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút hoặc thay đổi, bổ sung nội dung kháng cáo. Các đ ơng sự không thỏa thu n đ ợc với nhau về việc giải quyết vụ án. Đơn kháng cáo của bị đơn còn trong hạn lu t định và hợp lệ nên đ ợc xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tranh chấp: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn; Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là có cơ sở và đúng pháp lu t.

Xét các yêu cầu kháng cáo của ông D, nh n thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Tại cấp sơ thẩm, bà V cho biết nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bà và ông D th ờng xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, ông D muốn kiểm soát thời gian đi làm của bà và kiểm soát kinh tế, tài sản gia đình, vợ chồng nhiều lần xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhau; về phía ông D, c ng thừa nh n vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nh ng cho rằng nguyên nhân xuất phát từ phía bà V do bà V không sinh con thứ hai cho ông, không tôn trọng ông, đi đâu làm gì c ng không cho ông biết, th ờng xuyên đi sớm về muộn, ít quan tâm gia đình, không tham gia các hoạt động tôn giáo nh bà V đã cam kết tr ớc khi lấy chồng. Tại phiên tòa, các đ ơng sự đều xác nh n những nguyên nhân mâu thuẫn nêu trên là đúng sự th t, vì v y, căn cứ vào lời khai của các bên, có căn cứ để xác định đời sống hôn nhân giữa bà V, ông D có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục; thực tế, bà V, ông D c ng không còn sống chung từ khoảng tháng 9/2023 đến nay. Nh v y, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nh n yêu cầu xin ly hôn của bà V là có căn cứ, đúng pháp lu t.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông D cho rằng mâu thuẫn vợ chồng ch a đến mức trầm trọng và vẫn có thể hàn gắn đ ợc, tuy nhiên, ông D không đ a ra đ ợc chứng cứ chứng minh kể từ thời điểm vợ chồng ly thân cho đến nay, ông D đã có những hành động hoặc ph ơng thức để hàn gắn quan hệ hôn nhân của cả hai, vì v y, kháng cáo không đồng ý ly hôn của ông D không đ ợc chấp nh n.

Về con chung: Vợ chồng ông D bà V có 01 con chung - tên Nguyễn Nữ Thanh T (10 tuổi). Cả ông D và bà V đều có nguyện vọng đ ợc trực tiếp nuôi d ỡng con chung. Xét thấy, hiện nay, ông D, bà V đều có nghề nghiệp và thu nh p ổn định nên đủ đảm bảo điều kiện v t chất để nuôi d ỡng cháu T, tuy nhiên, cháu T là con gái, lại có nguyện vọng đ ợc ở với mẹ và bản thân bà V là giáo viên, sẽ có điều kiện tốt hơn trong việc nuôi dạy, giáo dục cháu T, vì v y Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu T cho bà V trực tiếp nuôi d ỡng là phù hợp. Do đó, kháng cáo yêu cầu đ ợc trực tiếp nuôi d ỡng cháu T của ông D c ng không đ ợc chấp nh n.

Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của ông D. Chấp nh n ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo của ông D không đ ợc chấp nh n nên ông D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nh ng đ ợc khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002020 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N. Ông D đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng dân sự;

Bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D.

Giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện N.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, a khoản 1 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273 và 483 Bộ lu t Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, 82 và 83 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Các điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của bà V ơng Thúy V. Bà V ơng Thúy V đ ợc ly hôn ông Nguyễn Tiến D.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Nữ Thanh T, sinh ngày 22/10/2014 cho bà V ơng Thúy V trực tiếp chăm sóc, nuôi d ỡng.

2.2. Ông Nguyễn Tiến D không phải cấp d ỡng nuôi con chung do bà V ơng Thúy V không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí:

3.1. Bà V ơng Thúy V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nh ng đ ợc khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001300 ngày 02/11/2023 (do bà Lê Thị Hồng L nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, t nh Ninh Thu n. Bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Ông Nguyễn Tiến D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nh ng đ ợc khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002020 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, t nh Ninh Thu n. Ông D đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai phúc thẩm, có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (ngày 16/7/2024)./.

Cỡ chữ