- Tranh chấp gì? án hành chính — "K'a va H'J"
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮ N NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HC-ST Ngày 27-3-2024 V/v yêu cầu hu GCNQSDĐ |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮ N NG
- Thành phần H i đ ng x t xử sơ thẩm g m có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Đức Dương
á
i thẩm nh n d n Bfa Trần Thị Phương Thảo và ông Bùi Xuân Vấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Thư ký T a án nhân dân tỉnh Đ k Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Vương Thị B c - Kiểm sát viên.
Ngày 27-3-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ k Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 67/2023/TLST-HC ngày 13-10-2023 về việc “ hi u i n hu i y h ng nh n uy n d ng đ t , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2024/QĐXXST-HC ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông K’A và bà H’J; địa chỉ: Bon N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ k Nông – V ng mặt.
Người đại di n theo ủy quy n: Anh K’L; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
2. Người bị kiện:
2.1. Ủy ban nhân dân huyện Đăk Gl; địa chỉ: Xã Qu, huyệnĐ, tỉnh Đăk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Văn P; chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện Đ – Có đơn xin xét xử v ng mặt.
2.2. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ; địa chỉ địa chỉ: Số 92, đường 23/3, phường Nghĩa Đức, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.
Người đại di n theo ủy quy n: Ông Ngô Chí T; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông - Có đơn xét xử v ng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà G’Riêng; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – V ng mặt.
Người đại di n theo ủy quy n: Anh K’L; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
3.2. Ông K’Đ; địa chỉ: Xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông - Có đơn xin xét xử v ng mặt.
NỘI D NG V N
1. Theo đơn hởi ki n ngày 29-9-2023 của ông K’A và bà H’J và trong quá trình giải quy t v án, người đại di n theo ủy quy n trình bày:
Năm 1997, gia đình ông K’Đong và bà H’G được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk (nay là UBND huyện Đ, tỉnh Đăk Nông) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 (cũ), diện tích 1430m2. Năm 2017, ông K’Đ và bà H’G được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đổi thửa đất số 63 thành thửa đất số 182, tờ bản đồ số 166, diện tích 1252,1m2 sau đó tách thửa 182 thành thửa 317 và thửa 318. Năm 2018, ông K’A và bà H’J nhận chuyển nhượng thửa 317, năm 2019 bà H’G nhận thừa kế thửa đất số 318. Sau đó, ông K’A, bà H’J và bà H’G thực hiện thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ thì được Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai huyện Đ trả lời: Việc cấp đổi thửa đất số 63, tờ bản đồ 02 của ông K’Đ và bà H’G vào năm 2017 có sự nhầm lẫn, lẽ ra thửa số 63 phải đổi thành thửa 183, tờ bản đồ 166 diện tích 1358,4m2 thì lại nhầm thành thửa 182, tờ bản đồ 166, diện tích 1252,1m2, sai sót của cơ quan chức năng trong việc đổi thửa ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên người khởi kiện đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ số CS 558394 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166, diện tích 1130.4m2 cấp ngày 19-11-2019 cho bà H’G; hủy GCNQSDĐ số CN 274738 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7m2 cấp ngày 01-8-2018 cho ông K’A và bà H’J và hủy GCNQSDĐ đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1450m2 do UBND huyện Đăk Nông, tỉnh Đăk Lăk cấp cho ông K’Đ1.
2. Người bị ki n Ủy ban nhân dân huy n Đ trình bày: Do sai sót trong việc xác định vị trí ranh giới nên năm 2017 UBND xã Q lập hồ sơ cấp đổi cho thửa 63 tờ bản đồ 02 thành thửa 182 tờ bản đồ 166 diện tích 1252,1m2 và tách thửa, đăng ký biến động. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 5 Điều 87 Nghị định số: 43/NĐ-CP nhà nước không được thu hồi GCNQSDĐ khi các bên đã thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, do đó đề nghị Tòa án xem xét hủy các GCNQSDĐ nêu trên theo quy định của pháp luật.
3. Người bị ki n là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh trình bày: Ngày 14-11-2017, Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký đất đai Đ k Glong tiếp nhận và xử lý hồ sơ cấp đổi và tách thửa đất đối với thửa đất số 63, tờ bản đồ số 02 xã Q (bản đồ phê duyệt năm 1998), diện tích 1430 m2 theo GCNQSDĐ số K 544343 được UBND huyện Đ k Nông (cũ) cấp ngày 03-10-1997 cho ông K Đ. Ngày 16-11-2017, Sở Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số: 2010/QĐ-TN&MT về việc thu hồi GCNQSDĐ số K544343 của ông K Đ, đồng thời cấp GCNQSDD số CI 375858 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7 m2 (trong đó: 100 m2 đất ở tại nông thôn + 21,7 m2 đất trồng cây lâu năm) và GCNQSDĐ số CI 375859 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166 xã Q, diện tích 1130,4 m2 (Trong đó: 300 m2 đất ở tại nông thôn + 830,4 m2 đất trồng cây lâu năm) cho ông K Đ. Ngày 22-4-2019, Chi nhánh Văn ph ng Đăng ký đất đai Đ k G tiếp nhận hồ sơ phân chia tài sản thừa kế của bà H’G đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166 xã Q, diện tích 1130,4 m2 theo GCNQSDD số CI 375859. Ngày 19-11-2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp lại GCNQSDĐ số CS 558394 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166 xã Q, diện tích 1130,4 m2 cho bà H’G. Năm 2017, Ông K’Đ chuyển nhượng cho ông Lưu Văn T thửa đất số 317 và năm 2018 ông T chuyển nhượng cho ông K’A và bà H’J. Ngày 01-8-2018, Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCNQSDĐ số CN 274738, thửa đất 317, tờ bản đồ số 166 xã Q, diện tích 121,7 m2 cho ông K’A và bà H’J. Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Người có quy n lợi, nghĩa v liên quan ông K’Đ1 trình bày: Ngày 03-10-1997, ông được UBND huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk (cũ) cấp GCNQSDĐ số K544344 đối với thửa đất số 662, tờ bản đồ số 02, diện tích 1450m2, gia đình ông sử dụng đúng vị trí, diện tích, không tranh chấp với ai. Năm 2020, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cấp đổi GCNQSDĐ cho ông K’Đ1 theo dữ liệu bản đồ mới là thửa đất số 182, tờ bản đồ 166, diện tích 1252m2 (bao gồm 400m2 đất ở và 852m2 đất trồng cây lâu năm) theo GCNQSDĐ số CS 308276. Trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ số K544344 của UBND huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 03-10-1997 cho ông K’Đ1 và thủ tục cấp đối GCNQSDĐ của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cho ông K’Đ1 đúng hiện trạng, vị trí, diện tích và thực tế sử dụng, hiện nay ông K’Đ1 đã chuyển nhượng cho ông Lê Văn P theo đúng quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông K’A và bà H’J, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
5. Tại phiên t a, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu độc lập.
6. Đại diện Viện kiểm sát căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án và phiên tòa xét xử công khai, xác định do sai sót trong quá trình thực hiện hồ sơ cấp đổi thửa 62 tờ bản đồ 02 thành thửa 182 tờ bản đồ 166 diện tích 1252,1m2 và tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất của Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Đăk Nông nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông K’A và bà H’J cũng như yêu cầu độc lập của người liên quan bà H’G đề nghị hủy GCNQSDĐ số CS 558394 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166, diện tích 1130.4m2 cấp ngày 19-11-2019 cho bà H’G và hủy GCNQSDĐ số CN 274738 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7m2 cấp ngày 01-8-2018 cho ông K’A và bà H’J. Không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ số K544344 do UBND huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 03-10-1997 cho ông K’Đ1 đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1450m2.
NHẬN Đ NH CỦA T
N
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 20-3-2023, ông K’A nhận được Thông báo số: 138/TB-CNVPĐKĐĐ của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai huyện Đ về việc từ chối giải quyết hồ sơ cấp đổi GCNQSDĐ. Ngày 04-10-2023, ông K’A và bà H’J khởi kiện yêu cầu T a án giải quyết là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, vụ án do Toà án nhân dân tỉnh Đ k Nông giải quyết.
2. Về nội dung:
[2.1]. Ngày 03-10-1997, ông K’Đ được UBND huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk (nay là UBND huyện Đăk G, tỉnh Đăk Nông) cấp GNCQSDĐ số K544343 đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1430m2 (trong đó có 400m2 đất ở và 1030m2 đất nông nghiệp). Năm 2017, ông K’Đ được Văn ph ng đăng ký đất đai tỉnh Đăk Nông cấp đổi thửa đất số 62 thành thửa đất số 182 và tách thửa đối với thửa đất số 182 thành thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7m2 (trong đó gồm 100m2 đất ở và 21,7m2 đất trồng cây lâu năm) và thửa đất số 318, tờ bản đồ 166, diện tích 1130,4m2 (Trong đó 300m2 đất ở và 830,4m2 đất trồng cây lâu năm). Năm 2017, ông K’Đ chuyển nhượng thửa 317 cho ông Lưu Văn T,năm 2018, ông Lưu Văn T chuyển nhượng cho ông K’A và bà H’J. Ngày 01-8-2018, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông cấp GCNQSDĐ số CN 274738 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ 166, diện tích 121,7m2 cho ông K’A. Ngày 19-11-2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Nông cấp lại GCNQSDĐ số CS 558394 đối với thửa đất số 318 cho bà H’G.
[2.2]. Công văn số: 138/TB-CNVPĐKĐĐ, ngày 20-3-2023 của Chi nhánh Văn ph ng đăng ký đất đai huyện Đ phù hợp với các chứng cứ đã thu thập lưu hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử kết luận: Theo hiện trạng thì thửa 62 tờ bản đồ 02 cũ diện tích 1430m2 tương ứng với thửa 183 tờ bản đồ 166 diện tích 1358,4m2 (kết quả bản đồ đo đạc 2013). Tuy nhiên, do sai sót trong quá trình thực hiện hồ sơ cấp đổi thửa 62 tờ bản đồ 02 thành thửa 182 tờ bản đồ 166 diện tích 1252,1m2 và tách thửa, chuyển quyền sử dụng đất. Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K’A và bà H’J cũng như yêu cầu độc lập của người liên quan bà H’G đề nghị hủy GCNQSDĐ số CS 558394 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166, diện tích 1130.4m2 cấp ngày 19-11-2019 cho bà H’G và hủy GCNQSDĐ số CN 274738 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7m2 cấp ngày 01-8-2018 cho ông K’A và bà H’J.
[2.3]. Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số K544344 do UBND huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 03-10-1997 cho ông K’Đ1 đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1450m2: Ông K’Đ1 sử dụng đúng vị trí, diện tích, không tranh chấp với ai. Năm 2020, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk N cấp đổi GCNQSDĐ cho ông K’Đ1 theo dữ liệu bản đồ mới là thửa đất số 182, tờ bản đồ 166, diện tích 1252m2 (bao gồm 400m2 đất ở và 852m2 đất trồng cây lâu năm) theo GCNQSDĐ số CS 308276. Trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ số K544344 của UBND huyện Đăk N, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 03-10-1997 cho ông K’Đ1 và thủ tục cấp đối GCNQSDĐ của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông cho ông K’Đ1 đúng hiện trạng, vị trí, diện tích và thực tế sử dụng, đồng thời ông K’Đ1 đã chuyển nhượng cho ông Lê Văn P theo đúng quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện đối với nội dung này.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận một phần nên người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm; người bị kiện Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đăk Nông phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì á lẽ trên,
QUYẾT Đ NH
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông K’A và bà H’J, chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H’G:
1.1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 558394 đối với thửa đất số 318, tờ bản đồ số 166, diện tích 1130.4m2 tọa lạc tại xã Q, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk N cấp ngày 19-11-2019 cho bà H’G.
1.2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 274738 đối với thửa đất số 317, tờ bản đồ số 166, diện tích 121,7m2 tọa lạc tại xã Q, huyện Đăk Gg, tỉnh Đăk Nông do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 01-8-2018 cho ông K’A và bà H’J.
1.3. Buộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K’A, bà H’J và bà H’G.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông K’A và bà H’J đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số K544344 do Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 03-101997 đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02, diện tích 1450m2 cho ông K’Đ1.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
3.1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
3.2. Trả lại ông K’A và bà H’J 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số: 0000012 ngày 11-10-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông. Trả lại cho bà H’G 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số: 000079 ngày 16-01-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các đương sự v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giao bản án hoặc niêm yết bản án đúng quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - UBND tỉnh Đ k Nông; - VKSND tỉnh Đ k Nông; - Cục THADS tỉnh Đ k Nông; - Các đương sự; - Lưu: Tổ HCTP; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Đức Dƣơng |