vanban.org

Bản án 10/2024/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi của bà Hồ Thị Đ đối với ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T.

Buộc ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T phải liên đới thanh toán cho bà Hồ Thị Đ số tiền vốn hụi còn nợ là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hồ Thị Đ- Trần Thị Phương T "Hụi""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi của bà Hồ Thị Đ đối với ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/DS-ST
Ngày: 15-01-2024
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Ngọc Dình

2. Bà Nguyễn Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 353/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Đ (tên gọi khác: 10 N), sinh năm 1956. Địa chỉ: Số C, ấp G, xã P, huyện C, tỉnh Long An, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Công N1, sinh năm 1966, vắng mặt.

Bà Trần Thị Phương T, sinh năm 1966, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số A, ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị Đ trình bày:

Do bà làm chủ dây hụi nên bà có cho bà Trần Thị Phương T và ông Huỳnh Công N1 tham gia chơi 02 dây hụi, cụ thể:

Dây hụi thứ 1: Hụi lúa 03 tháng khui một lần với số tiền 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 15/01/2018 âm lịch, hụi có 15 phần, bà T tham gia 01 phần và hốt hụi ở kỳ thứ 07 nên phải đóng tiền hụi chết cho bà 0 kỳ, mỗi kỳ đóng số tiền 5.000.000 đồng.

Dây hụi thứ 2: Hụi lúa 03 tháng khui một lần với số tiền 5.000.000 đồng, hụi khui ngày 15/01/2018 âm lịch, hụi có 15 phần, bà T tham gia 01 phần và hốt hụi ở kỳ thứ 07 nên phải đóng tiền hụi chết cho bà 0 kỳ, mỗi kỳ đóng số tiền 5.000.000 đồng.

Tổng 02 dây hụi bà T và ông N1 phải đóng tiền hụi chết mỗi kỳ (03 tháng) cho bà số tiền 10.000.000 đồng. Quá trình đóng hụi chết bà T và ông N1 thực hiện không đầy đủ và hiện nay các dây hụi đã mãn, bà đã đóng choàng tiền hụi cho ông N1 và bà T từ kỳ thứ 08 đến kỳ thứ 15 (mãn hụi) là 08 kỳ với số tiền 80.000.000 đồng.

Tuy nhiên, số tiền hụi 50.000.000 đồng bà đóng choàng cho ông N1 và bà T từ kỳ thứ 08 đến kỳ thứ 12 bà đã khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2022/DS-ST ngày 08/9/2022. Do đó, hiện nay ông N1 và bà T còn nợ bà số tiền hụi đóng choàng của 03 kỳ hụi còn lại với số tiền là 30.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T phải liên đới thanh toán cho bà số tiền choàng hụi chết là 30.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi, yêu cầu trả một lần khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Bà Hồ Thị Đ có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi với ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T, việc tranh chấp được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông N1 và bà T cư trú tại huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Bà Đ, bà T và ông N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và bà Đ có đơn xin vắng mặt, bà T và ông N1 vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ, bà T và ông N1.

. Về nội dung vụ án: Bà Đ yêu cầu ông N1 và bà T phải liên đới thanh toán cho bà số tiền choàng hụi chết là 30.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi.

Xét thấy, việc tham gia chơi hụi là sự thỏa thuận của các đương sự, bà Đ là chủ hụi tổ chức cho các thành viên tham gia góp hụi trong đó có ông N1 và bà T tham gia hai dây hụi, giao dịch hụi giữa các thành viên tham gia hụi được diễn ra hàng quí (03 tháng), bà Đ chịu trách nhiệm thu tiền hụi của các hụi viên có tiền góp hụi thấp hơn để giao cho hụi viên góp tiền hụi cao hơn và được hưởng tiền hoa hồng do hụi viên hốt hụi chi trả. Hụi viên đã hốt hụi phải đóng lại tiền hụi chết cho chủ hụi để chủ hụi giao tiền hụi cho các hụi viên khác hốt sau, ông N1 và bà T đã hốt xong hai dây hụi nên có nghĩa vụ đóng lại tiền hụi chết cho bà Đ nhưng không thực hiện và còn nợ bà Đ số tiền hụi chết là 30.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, mặc dù Tòa án nhiều lần triệu tập ông N1 và bà T tham gia tố tụng để làm rõ nội dung vụ án nhưng ông bà đều vắng mặt không đến Tòa án giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này thể hiện việc ông bà đã từ bỏ quyền chứng minh cho mình. Tuy nhiên, việc tham gia chơi hụi giữa các bên được bà T thừa nhận tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2022/DS-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Sau khi ông N1 và bà T hốt hụi thì không đóng lại tiền hụi chết cho bà Đ số tiền của hai dây hụi với 03 kỳ hụi còn lại với số tiền là 30.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ, buộc ông N1 và bà T phải liên đới thanh toán cho số tiền vốn hụi còn nợ là 30.000.000 đồng, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Bà T và ông N1 chậm thanh toán thì phải chịu tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Đ được chấp nhận nên ông N1 và bà T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định, cụ thể: 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng. Bà Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 357, 468 và 471 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi của bà Hồ Thị Đ đối với ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T.

Buộc ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T phải liên đới thanh toán cho bà Hồ Thị Đ số tiền vốn hụi còn nợ là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: ông Huỳnh Công N1 và bà Trần Thị Phương T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ