vanban.org

Bản án 10/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phạm tội: “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Đinh Th1 12 (mư i hai) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại ch p hành án. Xử phạt bị cáo Đinh Th2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 18 (mư i tám) tháng, th i hạn tính từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Th1 và đồng bọn "Hủy hoại rừng" - phạm tội hủy hoại rừng (điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phạm tội: “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN K
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HSST
Ngày: 06/9/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Ch t a phiên tòa: Ông Phan Huy Viễn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Hưng.

2. Bà Ngô Thị Tuyết Mai.

- Th ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ánh Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/HSST, ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2023/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Đinh Th1, sinh ngày 01/01/1996 tại K – Gia Lai;

Nơi cư trú: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai;

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đinh H, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị A, sinh năm 1974.

Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị B, sinh năm 1997 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021 hiện vợ con bị cáo đang sinh sống tại: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 04 anh chị em, ngư i lớn nh t sinh năm 1990, ngư i nhỏ nh t sinh năm 1997, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tốt.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Đinh Th2, sinh ngày 03/8/1997 tại K – Gia Lai;

Nơi cư trú: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai;

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đinh H, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị A, sinh năm 1974.

Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị J, sinh năm 1999 và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2022 hiện vợ con bị cáo đang sinh sống tại: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 04 anh chị em, ngư i lớn nh t sinh năm 1990, ngư i nhỏ nh t sinh năm 1997, bị cáo là con út trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tốt.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Đinh Th3, sinh ngày 01/01/1992 tại K – Gia Lai;

Nơi cư trú: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai;

Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Bahnar; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Đinh H, sinh năm 1975 và bà Đinh Thị A, sinh năm 1974.

Bị cáo có vợ là chị Đinh Thị Đ, sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020 hiện vợ con bị cáo đang sinh sống tại: Làng H, xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có 04 anh chị em, ngư i lớn nh t sinh năm 1990, ngư i nhỏ nh t sinh năm 1997, bị cáo là thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tốt.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời bào chữa cho các bị cáo Đinh Th, Đinh Th và Đinh Th: Bà Cao Thị Mi Sa, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai – có mặt.

- Bị hại: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K;

Địa chỉ: Thôn 2, xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai

Ngư i đại diện theo pháp luật là ông Lê Văn Th, Giám đốc Công ty – có mặt.

- Ngƣời phiên dịch: Ông Đinh Văn B, phiên dịch tiếng Bahnar – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: Khoảng cuối tháng 02/2023, Đinh Th1 nh anh trai là Đinh Th2 và em trai là Đinh Th3 cùng trú tại làng H, xã Y, huyện K đi cắt hạ, phát dọn cây rừng bên cạnh rẫy của Th1 ở làng H, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai để mở rộng diện tích đ t rẫy canh tác thì được Th2 và Th3 đồng ý. Sau đó, Th1 mang theo cưa xăng của mình, còn Th2 và Th3 mang theo mỗi ngư i 01 con dao rựa rồi cùng nhau đến khu vực lô 1, khoảnh 4, tiểu khu 790 thuộc địa giới hành chính làng H, xã Đ, huyện K cắt hạ, phát dọn các cây gỗ và cây bụi, chồi cây bên cạnh rẫy của Th1 trong th i gian 1,5 ngày thì xong. Sau khi cắt hạ, phát dọn xong thì Th1, Th2 và Th3 để cho phần thân cây bị cưa hạ, phát dọn khô để đốt. Đến ngày 27/02/2023, lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K tuần tra phát hiện và báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Kết quả khám nghiệm hiện trư ng xác định: Khu vực mà Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 cắt hạ, phát dọn, đốt phá rừng để làm rẫy thuộc lô 1, khoảnh 4, tiểu khu 790 thuộc xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai, tại hiện trư ng có 97 cây gỗ tự nhiên (từ nhóm II đến nhóm VII) bị cắt hạ có khối lượng 5,067m3 gỗ tròn, hủy hoại tổng diện tích 6.700m2 loại rừng sản xu t là rừng tự nhiên, trạng thái rừng lá rộng thư ng xanh trung bình.

Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, kết luận: Giá trị về lâm sản của 5,067m3 gỗ tròn, chủng loại: Thành ngành, Giẻ, Gòn gai, Dầu, Trám trắng Sp7, B i l i, Chàm, Muồng, Chay, Căm xe, Kơ nia, Gáo, Bằng lăng, Sao đen, Sung, Mít nài, Chò xót, Sao xanh, Trâm, Lim xẹt, Cóc (nhóm II đến nhóm VII) bị cắt hạ trái phép tại lô 1 khoảnh 4 tiểu khu 790 thuộc địa giới hành chính làng H, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai là 10.241.080 đồng; giá trị thiệt hại, giá trị phải bồi thư ng đối với diện tích 6.700m2 rừng tự nhiên bị hủy hoại là 16.726.230 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKS, ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phạm tội “Hủy hoại rừng”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Th1 từ 12 đến 16 tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 54, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Th2 và bị cáo Đinh Th3 mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn nêu ý các kiến đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Tại phiên tòa, ngư i bào chữa cho các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 là bà Cao Thị Mi Sa thống nh t với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như các bị cáo quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là ngư i đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế; các bị cáo đã bồi thư ng khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo và là lao động chính trong gia đình. Ngư i bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo Th2 và Th3 mức án th p nh t mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đồng th i miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho các bị cáo. Riêng đối với bị cáo Th1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì mà chỉ mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được miễn án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện K trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngư i bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của các bị cáo được xác định theo l i khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa như sau: Vào khoảng cuối tháng 02/2023, do cần đ t để mở rộng diện tích nương rẫy nên Đinh Th1 đã nh anh trai là Đinh Th2 và em trai là Đinh Th3 đi phát dọn cây rừng và được Th2, Th3 đồng ý. Cả ba đã vào khu vực rừng tự nhiên tại lô 1, khoảnh 4, tiểu khu 790 thuộc địa bàn xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai sử dụng máy cưa xăng, rựa để cắt hạ, phát dọn cây rừng với diện tích khoảng 6.700m2 đ t rừng sản xu t. Sau khi cắt hạ, phát dọn xong thì Th1, Th2 và Th3 để cho phần thân cây bị cưa hạ, phát dọn khô đi rồi đốt. Đến ngày 27/02/2023, hành vi của các bị cáo bị lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K phát hiện. Các bị cáo đều nhận th y hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng.

. L i khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với l i khai của bị hại cũng như các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 đã phạm vào tội: “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

. Xét về nhân thân, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì th y rằng:

Trong th i gian vừa qua, trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói chung và địa bàn huyện K nói riêng vẫn thư ng xuyên xảy ra tình trạng đốt, phá rừng làm nương rẫy mặc dù các c p chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng vẫn liên tục tuyên truyền, vận động, giáo dục. Các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 đều là những ngư i trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và đều nhận thức được hành vi đốt, phá rừng là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì suy nghĩ cần đ t để mở rộng diện tích nương rẫy, các bị cáo đã cùng nhau chặt phá, phát dọn 6.700m2 đ t rừng sản xu t là rừng tự nhiên, gây thiệt hại về tiền là 16.726.230 đồng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến môi trư ng rừng. Chính vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với hành vi của các bị cáo thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước. Để có mức hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo thì cần phân tích vai trò, trách nhiệm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:

Đối với bị cáo Đinh Th1: Bị cáo là ngư i chủ mưu đề xướng đồng th i trực tiếp dùng máy cưa để cắt hạ cây rừng nên giữ vai trò chính trong vụ án. Chính vì vậy, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo bằng hình phạt tù cách ly khỏi đ i sống xã hội một th i gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành ngư i công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xét cho bị cáo có nhân thân tốt; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo đã cùng các bị cáo khác tự nguyện bồi thư ng một phần thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thuộc diện hộ nghèo và là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Đinh Th2 và Đinh Th3: Khi nghe Đinh Th1 khởi xướng, các bị cáo đã đồng ý tham gia và trực tiếp dùng rựa chặt hạ, phát dọn cây rừng nên giữ vai trò là ngư i thực hành. Do đó, cũng cần phải xử lý nghiêm để các bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành ngư i công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, cũng xét cho các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; các bị cáo đã tự nguyện bồi thư ng một phần thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo đều thuộc diện hộ nghèo và là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét th y các bị cáo Đinh Th2 và Đinh Th3 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức án dưới mức th p nh t của khung hình phạt mà các bị cáo bị truy tố đồng th i cho các bị cáo được hưởng án treo bên cạnh sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi các bị cáo thư ng trú cũng đủ cho các bị cáo cải tạo, sửa đổi bản thân tiến bộ.

Đối với trách nhiệm của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K là đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng: Trong quá trình điều tra xác định cán bộ, nhân viên của Công ty còn chủ quan, lơ là, chưa thư ng xuyên tuần tra, kiểm tra dẫn đến việc chậm phát hiện hành vi phá rừng. Tuy nhiên, tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K xác định giá trị thiệt hại, giá trị bồi thư ng đối với rừng tự nhiên trong vụ án này là 16.726.230 đồng và thiệt hại này không đủ định lượng để xử lý trách nhiệm hình sự về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã có văn bản đề nghị cơ quan chủ quản của Công ty xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức án đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.

. Đối với đề nghị của ngư i bào chữa về tội danh và mức án đối với các bị cáo Đinh Th2 và Đinh Th3 là phù hợp. Tuy nhiên, l i đề nghị của ngư i bào chữa về việc áp dụng án treo đối với bị cáo Đinh Th1 thì Hội đồng xét xử không ch p nhận bởi lẽ trong vụ án này bị cáo là ngư i chủ mưu đề xướng việc phạm tội mà theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không cho ngư i chủ mưu đề xướng được hưởng án treo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K yêu cầu các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phải bồi thư ng thiệt hại số tiền là 16.726.230 đồng theo kết luận định giá. Ngày 31/7/2023, các bị cáo đã nộp số tiền 9.000.000 đồng (theo l i khai tại phiên tòa thì trong số tiền 9.000.000 đồng này mỗi bị cáo nộp 3.000.000 đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K để bồi thư ng khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0003273.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K yêu cầu các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phải tiếp tục bồi thư ng số tiền còn lại là 7.726.230 đồng. Yêu cầu này là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ch p nhận. Cũng tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thư ng số tiền còn lại này và thống nh t chia đều số tiền đó cho từng bị cáo bồi thư ng. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ch p nhận và buộc mỗi bị cáo phải tiếp tục bồi thư ng cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K số tiền còn lại là 2.575.410 đồng.

. Về hình phạt bổ sung:

Xét các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 đều là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo do đó không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 con dao rựa có phần lưỡi bằng kim loại dài 26cm, phần cán gỗ dài 24cm và 01 con dao rựa có phần lưỡi bằng kim loại dài 20cm, phần cán gỗ dài 28cm là công cụ do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 máy cưa xăng gồm phần máy có vỏ nhựa màu cam và phần lưỡi cưa, tình trạng đã qua sử dụng là công cụ do các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước;

- Đối với 168 lóng gỗ có tổng khối lượng là 5,029m3 gỗ tròn thu gom được hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Hạt kiểm lâm huyện K cần tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước sau khi trừ các chi phí hợp lý cho việc thu gom, vận chuyển, bảo quản.

. Về án phí sơ thẩm: Xét các bị cáo đều là ngư i dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phạm tội: “Hủy hoại rừng”.

2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38 và 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đinh Th1 12 (mư i hai) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại ch p hành án.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 54, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự;

+ Xử phạt bị cáo Đinh Th2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 18 (mư i tám) tháng, th i hạn tính từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2023).

+ Xử phạt bị cáo Đinh Th3 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 18 (mư i tám) tháng, th i hạn tính từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2023).

Giao bị cáo Đinh Th2 và bị cáo Đinh Th3 cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thư ng trú là Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong th i gian thử thách.

Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trư ng hợp bị cáo Đinh Th2 và bị cáo Đinh Th3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự;

Xử buộc các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 phải bồi thư ng cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp K số tiền là 16.726.230 đồng (Mư i sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng). Các bị cáo đã tự nguyện bồi thư ng số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) nên còn phải tiếp tục bồi thư ng số tiền còn lại là 7.726.230 đồng (Bảy triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm ba mươi đồng), cụ thể: Các bị cáo Đinh Th1, Đinh Th2 và Đinh Th3 mỗi bị cáo phải tiếp tục bồi thư ng số tiền là 2.575.410 đồng (Hai triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm mư i đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

(Số tiền các bị cáo đã bồi thư ng còn ở tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Gia Lai).

4. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Xử tịch thu và tiêu hủy 01 (một) con dao rựa có phần lưỡi bằng kim loại dài 26cm, phần cán gỗ dài 24cm và 01 (một) con dao rựa có phần lưỡi bằng kim loại dài 20cm, phần cán gỗ dài 28cm.

- Xử tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 (một) máy cưa xăng gồm phần máy có vỏ nhựa màu cam và phần lưỡi cưa, tình trạng đã qua sử dụng.

- Xử tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 168 lóng gỗ có tổng khối lượng là 5,029m3 gỗ tròn (Có bảng kê lâm sản kèm theo).

Số tiền bán vật chứng sung quỹ Nhà nước sau khi trừ các chi phí hợp lý cho việc thu gom, vận chuyển, bảo quản.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/8/2023 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K).

5. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội;

Xử miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Th1; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Th2; miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Đinh Th3.

6. Về quyền kháng cáo: Trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

7. Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ