- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Long Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10 /2023/HS-ST Ngày: 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Phú Hào. Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam phường Phú Lâm
2. Bà Mai Thị Ngọc Tuyết. Phó trưởng ban kinh tế xã hội-UBND thành phố Tuy Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Công Trứ – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phan Thị Thanh T(tên gọi khác: Út), sinh năm: 1986; ĐKNKTT: đường K, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Tạm trú: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: lớp 4/12; cha Phan Văn H, sinh năm: 1958 và mẹ Trần Thị T, sinh năm: 1958 (chết); chồng Nguyễn Tấn C, sinh năm: 1987; có 03 con lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 09 tuổi. Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
-Người bị hại: Bùi Thị Kim T1, sinh năm: 1978. Địa chỉ: đường T, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1.Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1982
Địa chỉ: đường C, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
2.Phan Thị Ngọc H, sinh năm: 1968. Địa chỉ: đường Đ, phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
3.Trương Minh T3, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Yên.
4.Phan Thị Mỹ D, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Yên.
(Bà T2, bà H, ông T3, bà D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Để có tiền chữa bệnh cho con, bị cáo Th nảy sinh ý định thuê xe mô tô của bà Bùi Thị Kim T để đem đi thế chấp. Tại nhà bà T, T nói dối với bà T1 là thuê xe mô tô để sử dụng đi làm thuê trong thời hạn 10 ngày sẽ trả lại. Bà T1 tin tưởng nên ký hợp đồng cho bà T thuê 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Ware, biển số 78L1-8478 trong thời hạn 10 ngày với giá tiền 60.000đồng/ngày. T trả trước số tiền 180.000đ và giao căn cước công dân của bà T cho bà T1 giữ để làm tin. Sau đó, T gặp bạn là Nguyễn Thị T2 nói với bà T2 “biết chỗ nào thế dùm chiếc xe không có giấy tờ”. Bà T2 hỏi xe của ai, thế bao nhiêu thì T nói đây là xe của T và nhờ bà T2 thế chấp dùm 4.000.000đ để lấy tiền chữa bệnh cho con. T hứa 10 ngày sau sẽ chuộc lại xe nên bà T2 đồng ý. Lúc này bà T2 nhắn zalo cho Trương Minh T3 với nội dung “thế dùm chiếc xe ware được không, xe không giấy tờ” nhưng Tâm không đồng ý thì bà Tình năn nỉ T3 nhận thế chấp xe mô tô trên với số tiền 4.000.000đ. Tại nhà T3, T2 nói “xe của Tình không có giấy tờ” nên Tâm bảo vợ Phạm Thị Mỹ Diệu đưa giấy bút cho T2 viết có mượn của T3 4.000.000đ, T3 lấy trước tiền lãi 400.000đ và để lại chiếc xe mô tô trên cho T3 để làm tin. Sau khi nhận số tiền 3.600.000đ bà T2 đưa hết cho T. Đến hạn, T không có tiền chuộc lại xe trả lại cho bà T1. Nên ngày 23/3/2022, bà T1 làm đơn tố giác. Quá trình điều tra, bà T1 trả cho T3 số tiền 4.000.000đ, nên T3 giao nộp chiếc xe mô tô trên và đã trả lại cho chủ sở hữu bà Bùi Thị Kim T1.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 12/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Tuy Hòa kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Ware, biển số 78L1-8478, có giá trị 9.750.000đ.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Phan Thị Thanh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, n, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị mức hình phạt từ 06 – 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân.
Tại phiên tòa: Bị cáo Phan Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy hành vi của mình sai trái, đang mang thai được 04 tháng nên xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại bà Bùi Thị Kim T1 trình bày: Bị cáo T đã bồi thường cho bị hại, hiện tại thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn, đang mang thai và nuôi con nhỏ nên mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp lời khai của người bị hại và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 07/01/2022, bị cáo T có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt xe mô tô biển số 78L1-8478 trị giá 9.750.000đ của bà Bùi Thị Kim T1. Hành vi của bị cáo Phan Thị Thanh Thủy đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo Phan Thị Thanh T tỏ ra ăn năn hối cải, thật thà khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nhân thân tốt và hiện đang mang thai được 03 tháng tuổi, hoàn cảnh bị cáo khó khăn đang nuôi con nhỏ. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xét giảm hình phạt cho bị cáo và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tự cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000đ. Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại. Người bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Cần trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân được lưu tại hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị T2 khi thế chấp dùm chiếc xe mô tô trên cho Phan Thị Thanh T thì bà T2 không biết rõ chiếc xe này do T phạm tội mà có được nên cơ quan điều tra không khởi tố điều tra. Hội đồng xét xử không xét.
Đối với Trương Minh T khi nhận thế chấp chiếc xe mô tô trên thì T không biết rõ chiếc xe này do người khác phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không khởi tố điều tra. Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phan Thị Thanh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản1 Điều 174; điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Thanh T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xét
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo Phan Thị Thanh T 01 căn cước công dân số 054186004361 (đang lưu tại hồ sơ vụ án).
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Phú Yên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Tuy Hòa; -VKSND t.Phú Yên
- Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
- Công an TP. Tuy Hòa;
- Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Thị Hoa Dung
đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như hồ sơ vụ án. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ, đủ cơ sở xác định: Bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích, nhưng vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/01/2018 tại 247 Lê Duẩn, phường 7, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, bị cáo có hành vi trộm cắp xe mô tô của Nguyễn Thanh Hào trị giá 16.000.000đ. Khoảng 14 giờ ngày 11/01/2018 tại số nhà 431 Trường Chinh, phường 9, thành phố Tuy Hòa, bị cáo Toàn tiếp tục có hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu SamSung galaxyJ7 của chị Nguyễn Thị Chi trị giá 1.700.000đ. Tiếp đó vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 29/01/2018 tại lô 08 khu dân cư Hồ Sơn, phường 5, thành phố Tuy Hòa, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp 01 lồng chim bên trong có 01 con chim chào mào của anh Phạm Phú Yên trị giá 700.000đ.
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại 18.400.000đ.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Long Toàn đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của những người bị hại, không quản lý về tài sản nên đã có hành vi lén lút lấy tài sản. Khi bị phát hiện, bị cáo chống trả để chạy thoát, bị cáo là thanh niên có sức khỏe không chịu làm ăn lương thiện mà sa vào nghiện ma túy rồi lén lút lấy tài sản để bán tiêu xài cá nhân. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, trong thời gian một tháng bị cáo đã thực hiện 03 lần trộm cắp. Đây là những tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 05/3/2018, bị Công an TP.Tuy Hòa xử phạt 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không coi đó là bài học để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà tiếp tục con đường phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để có tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thật thà khai báo, được người bị hại ông Nguyễn Thanh Hào, bà Nguyễn Thị Chi xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sớm cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phạm Phú Yên đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên HĐXX không xét
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Thị Chi: Bị cáo bồi thường cho chị Nguyễn Thị Chi số tiền 1.700.000đ
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cần trả lại xe máy hiệu Yamaha, loại Sirius, có số khung RLCS5C6J0GY206846, số máy 5C6J206854, không có biển số cho ông Nguyễn Thanh Hùng.
Lưu hồ sơ : 01 tờ giấy học sinh đề ngày 10/01/2018 ghi nội dung giấy mượn tiền, người mượn là Bùi Tá Minh Nhật, sinh ngày 07/3/1996 thế xe mô tô 78C1-36213; 01 thẻ sinh viên mang tên Bùi Tá Minh Nhật;
Tiêu hủy 01 dao Thái Lan, 01 cây bút lông, 01 áo khoác màu xanh, 01 kiêm tiêm chưa sử dụng, 01 mũ bảo hiểm màu xanh.
Đối với ông Đỗ Ngọc Hớn mua điện thoại di động hiệu SamsungGalaxyJ7 của Huỳnh Long Tòan nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Viện kiểm sát không truy tố là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Long Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Long Toàn 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/3/2018.
Về trách nhiệm dân sự: .
Bị hại Phạm Phú Yên đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì nên HĐXX không xét.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Thị Chi: Bị cáo Huỳnh Long Toàn bồi thường cho chị Nguyễn Thị Chi số tiền 1.700.000đ (một triệu bảy trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án, nếu bị cáo Huỳnh Long Toàn chưa thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
[2.3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên trả xe máy hiệu Yamaha, loại Sirius, có số khung RLCS5C6J0GY206846, số máy 5C6J206854, xe không có biển số cho ông Nguyễn Thanh Hùng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa ngày 10/7/2018.
Lưu hồ sơ : 01 tờ giấy học sinh đề ngày 10/01/2018 ghi nội dung giấy mượn tiền, người mượn là Bùi Tá Minh Nhật, sinh ngày 07/3/1996 thế xe mô tô 78C1-36213; 01 thẻ sinh viên mang tên Bùi Tá Minh Nhật.
Tiêu hủy 01 dao Thái Lan, 01 cây bút lông, 01 áo khoác màu xanh, 01 kiêm tiêm chưa sử dụng, 01 mũ bảo hiểm màu xanh vì không còn giá trị sử dụng. Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa ngày 21/5/2018.
Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Long Toàn phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND TP. Tuy Hòa; - Chi cục THADS TP. TuyHòa; - Công an TP. Tuy Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoa Dung |