vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn P - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Dũng;

Bà Trương Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Sơn P, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1999 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: phường P1, thành phố P2, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Khmer; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; tiền án, tiền sự: không; con ông Sơn P3 và bà Lâm Thị Ngọc P4; bị cáo chưa có vợ, con; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 09/5/2000;, phường Đ1, thành phố P2, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Thanh B, sinh năm 2002, có mặt; Hồ Nguyễn Công M, có mặt; sinh năm 2001, có mặt; Trịnh Xuân N, sinh năm 2002, có mặt; Võ Nguyễn Minh H, sinh năm 2003,có mặt; Nguyễn Phạm Vũ A, sinh năm 2001, có mặt; Phạm Anh U, sinh năm 2002 và Phạm Trung T, sinh năm 2003, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh B và Nguyễn Phạm Vũ A kết bạn trên mạng xã hội với người có nickname Kim G (không rõ lai lịch). B và Bằng là bạn bè với nhau.

Ngày 21/4/2019, Kim G đăng tải hình ảnh cá nhân của G lên mạng xã hội Facebook. M, B, A cùng xem và vào bình luận. Khi bình luận thì giữa M với B và A phát sinh mâu thuẫn. Sau đó, A và M chủ động nhắn tin hòa giải với nhau, còn M và B vẫn tiếp tục nhắn tin cãi nhau qua Facebook nên M chờ A nhắn cho B hẹn gặp nhau tại khu vực gần quán cà phê I địa chỉ đường I1, thành phố P2, tỉnh Bình Dương vào tối ngày 22/4/2019 để nói chuyện thì B đồng ý. Do sợ gặp M sẽ xảy ra đánh nhau nên B gọi điện cho Phạm Anh U nói rõ sự việc mâu thuẫn với M cho U biết và nhờ U rủ thêm Nguyễn Hoàng Đ đến gặp M, phòng trường hợp nếu có xảy ra đánh nhau thì hỗ trợ đánh trả lại. U đồng ý và gọi điện thoại thì Đ đồng ý.

Khoảng 20 giờ ngày 22/4/2019, A điều khiển xe mô tô chở B đến đầu đường I1 (cách quán cà phê I khoảng 20 mét) để gặp M. Lúc này người bạn của A tên là Nhân (chưa rõ lai lịch) hẹn với A đi uống cà phê từ trước nên gọi điện cho A và biết A đang ở đây nên cũng chở theo người bạn đến đứng chơi cùng A và B, U và Đ đã hẹn nhau đến quán cà phê I ngồi uống nước chờ sẵn. Về phía M cũng rủ bạn là Sơn P, Trương Hoài O, Trịnh Xuân N, Võ Nguyễn Minh H và Phạm Trung T đi cùng và nói với cả nhóm bạn là “nếu gặp B nói chuyện đàng hoàng thì nói chuyện, nếu đánh nhau thì tụi mình đánh lại” thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, khi nhóm của M và nhóm của B đánh nhau thì P tham gia, dùng cây gậy ba khúc A kim loại đánh liên tiếp 01 cái vào vai và 01 cái vào miệng của Đ làm gãy 02 răng.

Sau khi phạm tội, Sơn P nhập cho đến ngày 13/01/2022 thì xuất ngũ.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 280/2019/GĐPY ngày 02/07/2019 của Trung tâm pháp y Bình Dương xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Hoàng Đ là 04%. Đ không yêu cầu khởi tố, xử lý hình sự đối với các đối tượng đã đánh mình.

Đối với Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Thanh B, Trương Hoài O, Trịnh Xuân N, Võ Nguyễn Minh H và Hồ Nguyễn Công M đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2022/HS-PT ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Cáo trạng số 143/CT-VKS.P2 ngày 04/11/2022 Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Sơn P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo P từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hoàng Đ yêu cầu bị cáo Sơn P bồi thường chi phí điều trị thương tích 20.000.000 đồng. Bị cáo P đồng ý bồi thường.

Bị cáo P không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Sơn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: do có mâu thuẫn với Nguyễn Thanh B nên Hồ Nguyễn Công M rủ Sơn P đến đánh nhau với nhóm của Nguyễn Thanh B thì P đồng ý. Trong lúc nhóm của M đánh nhóm của B thì P dùng cây gậy ba khúc bằng kim loại đánh Nguyễn Hoàng Đ gãy răng, gây tổn thương cơ thể là 04% nhưng Đ không yêu cầu khởi tố, xử lý hình sự Sơn P và nhóm bên bị hại M về tội "Cố ý gây thương tích". Hành vi của bị cáo Sơn P dùng hung khí để tham gia đánh nhau, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo phạm tội với tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi dùng hung khí để tham gia đánh nhau, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội là hành vi trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: giữa bị cáo và Nguyễn Hoàng Đ không quen biết không có mâu thuẫn gì nhưng bị cáo dùng hung khí gây thương tích cho Đ, tuy Đ không yêu cầu khởi tố hình sự bị cáo P về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng hành vi của bị cáo bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại địa phương, được tặng Giấy khen.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hoàng Đ yêu cầu bị cáo Sơn P bồi thường chi phí điều trị thương tích 20.000.000 đồng, bị cáo Đ đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo Sơn P phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh

Tuyên bố bị cáo Sơn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt: Áp dụng b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Sơn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585; 586 và 590 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận sự tư nguyện của bị cáo Sơn P có trách nhiệm bồi thường 20.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích cho Nguyễn Hoàng Đ.

4. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Sơn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ