- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo NTP 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 09-02-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Bà Trần Thị N Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Như Thủy;
2. Ông Nguyễn Đình Rành.
- Thư ký Pên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia Pên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2023/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo họ và tên:
NTP (tên gọi khác: NHT); giới tính: Nam; sinh năm 1986 tại Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã An, huyện F, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; họ và tên cha: NVK (đã chết); họ và tên mẹ: NTH, sinh năm 1958; chưa có vợ con; tiền án: Bản án số 119/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2018 nhưng chưa thi hành nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm); tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh và trật tự an tòa xã hội số 0011425/QĐ-XPHC ngày 21/3/2012 của Công an Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; nhân thân: Bản án số 226/2008/HSST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 125/2009/HSST ngày 21/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 209/2011/HSST ngày 09/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 19/2013/HSST ngày 26/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh, xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2022. Bị cáo có mặt tại Pên tòa.
Bị hại: Ông CTA, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp 5, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: 25 F, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt tại Pên tòa).
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà CTM, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp 5, xã Đ, huyện T, tỉnh T (Vắng mặt tại Pên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Pên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 ngày 09/07/2022, bị cáo NTP cùng với thanh niên tên N (không rõ lai lịch) điều khiển xe máy hiệu Sirius (không rõ biển số) từ Quận 12 qua Quận 7, tìm tài sản ai để sơ hở trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi cả hai đến trước Công ty Yang Yang House, địa chỉ 27 Nguyễn Hữu Thọ, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Hồ Chí Minh, P thấy xe máy Honda Wave, biển số: X6M1- 4XX.66 của ông CTA không có người trông coi, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. N nổ máy xe đứng ngoài cảnh giới, P xuống xe đi bộ đến gần xe máy biển số: 66M1- 418.66, dùng dụng cụ phá khóa tự chế hình chữ T mở ổ khóa xe, chuẩn bị nổ máy tẩu thoát thì bị ông ĐLMN phát hiện, tri hô. Lúc này, P nổ máy xe tăng ga bỏ chạy, ông N đuổi theo và tri hô cướp cướp, cùng lúc lực lượng dân phòng tự quản khu dân cư Him Lam tuần tra truy đuổi. Khi P chạy đến giao lộ đường Nguyễn Thị Thập và đường số 5, phường Tân Hưng Quận 7, va chạm xe với một người phụ nữ điều khiển xe máy SH mode, bị té ngã xuống đường thì bị bắt giao cho Công an phường Tân Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Còn đối tượng N đã chạy thoát.
Kết luận định giá tài sản số 262/Kl-HĐĐGTTHS ngày 01/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 7, kết luận: 01 xe máy hiệu Honda Wave, biển số 66M1- 418.66 có giá trị 15.670.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông CTA yêu cầu được nhận lại xe máy biển số X6 M1 – 4XX.66 và không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 31/CT-VKSQ7 ngày 12/01/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo NTP về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Đề nghị xử phạt bị cáo NTP từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại Pên tòa;
- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại Pên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại Pên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Pên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ và Kết luận định giá tài sản số 262/Kl-HĐĐGTTHS ngày 01/8/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 7, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo NTP có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô hiệu Wawe, biển số: X6M1- 4XX.66 trị giá 18.400.000 đồng của ông CTA. Hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.
Xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi, muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi này là nghiêm trọng vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân. Bị cáo có nhân thân xấu - có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản và đã nhiều lần chấp hành hình phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần xét xử bằng mức án nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại Pên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo NTP có 01 tiền án nhưng chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 xe máy hiệu Wave biển số X6M1- 4XX.66, số khung 3908HY507750, số máy JA39E0482911, qua xác minh do bà CTM đứng tên chủ sở hữu. Theo bà M khai xe này là của ông CTA, bà M chỉ đứng tên dùm. Ngày 09/7/2022, ông CTA sử dụng xe đi làm thì bị bị cáo P lấy trộm, nên xét trả lại xe cho ông CTA.
- 02 chìa khóa tự chế, một chìa khóa dài khoảng 05 cm có chữ Honda, cán nhựa màu đen, 01 chìa khóa dài khoản 3cm có cán nhựa màu đen chữ Yamaha; 01 đoạn kim loại tự chế hình chữ T, đây là công cụ phạm tội nên xét tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại iphone 12 màu đen, số imeil 35849424359873 và 01 điện thoại Nokia C2 màu vàng nâu, Model C2-01 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định bị cáo không sử dụng 02 điện thoại trên vào phạm tội, nên xét trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ông CTA chỉ yêu cầu nhận lại tài sản, không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người thanh niên tên N (không rõ nhân thân lai lịch) đi cùng với NTP thực hiện hành vi trộm xe máy, Cơ quan cảnh sát điều tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo NTP 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2022.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ
sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: - Trả lại cho ông CTA 01 xe máy hiệu Wave biển số X6M1- 4XX.66, số khung 3908HY507750, số máy JA39E0482911.
- Tịch thu tiêu hủy 02 chìa khóa tự chế, một chìa khóa dài khoảng 05 cm có chữ Honda, cán nhựa màu đen, 01 chìa khóa dài khoản 3cm có cán nhựa màu đen chữ Yamaha; 01 đoạn kim loại tự chế hình chữ T.
- 01 điện thoại iphone 12 màu đen, số imeil 35849424359873; 01 điện thoại Nokia C2 màu vàng nâu, Model C2-01.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.)
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại Pên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ, hoặc bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Q.7; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu sổ án, VT, hồ sơ; (TK.Sang) . | Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa Trần Thị N Phương |