vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Ánh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Ánh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Ánh N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Ánh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày: 15-02-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Ngọc Tiến

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Lâm Ánh N; sinh ngày: 10/8/1976 tại Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Hướng P, xã Quảng P, huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Minh T ( chết) và bà: Nguyễn Thị H (chết); Chồng: Võ Thanh S; Bị cáo có 04 con, lớn sinh năm: 1999, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2022.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Cầu K, xã Phú H, huyện Nhơn T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, vào lúc 00 giờ ngày 11/10/2018, bị cáo Lâm Ánh N đến bệnh viện nhân dân trên đường Sư Vạn H, Phường A, Quận B để tìm người sơ hở trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo đi lên lầu 1 khu B khoa nhịp tim sinh học bệnh viện nhân dân thì nhìn thấy 02 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng và Sam sung J5 màu vàng của bà Nguyễn Thị Mỹ L đang cắm sạc pin, không có người trông coi nên bị cáo dùng tay trái rút 02 chiếc điện thoại ra khỏi dây sạc rồi cất vào túi xách màu nâu đang đeo trên người. Ngay lúc này nhân viên bệnh viện là ông Lê Văn U cùng với ông Trương Hoàng S theo dõi Camera an ninh tại hành lang phát hiện bắt giữ bị cáo cùng vật chứng giao cho Công an Phường 12, Quận 10 xử lý. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 xử lý. Do bị cáo Lâm Ánh N đang mang thai nên được gia đình bảo lãnh tại ngoại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 873/KL-ĐGTS ngày 17/10/2018 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân Quận 10 xác định 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S có tổng trị giá là 3.700.000 đồng.

Ngày 11/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và truy nã đối với bị cáo Lâm Ánh N về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 24/10/2022 bị cáo Lâm Ánh N bị bắt.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, bị cáo Lâm Ánh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J5 màu đen, Imel1: 352700/07/807658/4; Imel 2: 352701/07/807658/2; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu đen. Imei 1: 358759054268502. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ L.

- 01 điện thoại đi động hiệu Nokia màu vàng là tài sản không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã trả lại cho bị cáo Lâm Ánh N.

- 01 túi xách đã qua sử dụng, màu nâu.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Mỹ L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSQ10 ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Lâm Ánh N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Lâm Ánh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.

- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lâm Ánh N đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S có tổng trị giá là 3.700.000 đồng. Do vậy bị cáo Lâm Ánh N bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương..

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị thu hồi trả lại cho bị hại nên thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lúc đang mang thai. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i, h, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 túi xách đã qua sử dụng, màu nâu là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị và bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, i, h, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Ánh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lâm Ánh N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 túi xách đã qua sử dụng, màu nâu.

(Tình trạng vật chứng Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/01/2023 giữa Công an Quận 10 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Lâm Ánh N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ