- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn Phong - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày 18-01-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Cà Văn P, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2000 tại B; đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản X, xã S, huyện G, tỉnh B; chỗ ở: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cà Văn T và bà Tòng Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 19/8/2022, tạm giam ngày 28/8/2022; có mặt.
Bị hại:
1. Chị Phạm Thị Vân A, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số 30/73 T, phường L quận A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
2. Chị Đinh Thị V, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ 8, phường X, quận S, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Phạm Việt N, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số 61/169 T, phường T, quận L, thành phố H; vắng mặt.
2. Anh Đào Văn L, sinh năm 1989; đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 337 T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
3. Chị Hoàng Thị T; sinh năm 1982; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 321 T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cà Văn P thường đi lang thang ở khu vực bãi gửi xe của Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng đã phát hiện thấy khi soát vé thì nhân viên bảo vệ không để ý người gửi xe và biển số xe trong camera, chỉ cần có vé xe (dạng vé từ) là lấy được xe nên nảy sinh ý định trộm cắp đối với các xe mà chủ xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa. Vào các ngày 14 và ngày 15 tháng 08 năm 2022, P đã dùng tay mở cốp của 03 xe và lấy được 03 chiếc vé xe. Khi P phát hiện thấy chủ xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa thì sẽ mở khóa để điều khiển xe ra chỗ bảo vệ trông xe và sử dụng vé xe đã lấy được từ trước đó để lấy xe ra khỏi cổng bệnh viện và mang đi tiêu thụ. Bằng phương thức thủ đoạn như nêu trên, P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản ở Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 16/8/2022, P đi đến khu vực bãi gửi xe cạnh nhà H thì nhìn thấy chiếc xe máy Honda Airblade biển kiểm soát 16P4-5752, của chị Phạm Thị Vân A vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa. P đi đến gần mở khóa điện của xe rồi điều khiển xe ra khu vực soát vé tại cổng 2 của bệnh viện. P đưa 01 vé xe cho nhân viên soát vé rồi lấy xe ra ngoài, sau đó đem đến cửa hàng sửa chữa xe máy số 337 T, phường V, quận L, Hải Phòng bán xe cho anh Đào Văn L được số tiền 1.300.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 14/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy Honda Airblade, biển kiểm soát 16P4-5752 là 20.000.000đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/8/2022, P đi bộ đến khu vực bãi gửi xe đằng sau nhà H thì nhìn thấy chiếc xe máy Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16M2-4648 của chị Đinh Thị V, xe vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa. P đi đến mở khóa điện của xe rồi điều khiển xe ra khu vực soát vé. P đưa 01 vé xe cho nhân viên soát vé rồi lấy xe ra ngoài bệnh viện và điều khiển xe đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng rủ 01 nam giới tên Thu là bạn xã hội cùng đi bán xe. P chở Thu đến Cửa hàng mua bán sắt vụn số 321 T, phường V, quận L, Hải Phòng, rồi một mình đi vào bán xe cho chị Hoàng Thị T được số tiền 700.000đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của chiếc xe máy Yamaha Jupiter, biển kiểm soát 16M2-4648 là 4.000.000đồng.
Ngày 19/8/2022 khi P đang đi lang thang ở Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp xem ai sơ hở để tiếp tục trộm cắp tài sản thì bị Công an phường Cát Dài kết hợp cùng nhân viên bảo vệ của bệnh viện mời về trụ sở Công an để làm việc. Nhân viên bảo vệ của bệnh viện đã giao nộp 01 usb ghi lại hình ảnh P đưa xe từ khu vực soát vé ra ngoài bệnh viện.
Tại cơ quan điều tra, Cà Văn P khai nhận: Do cần tiền ăn tiêu nên P thường đi lang thang ở khu vực bãi gửi xe của Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp để tìm sơ hở trộm cắp tài sản. P đã trộm cắp được chiếc xe máy của chị Phạm Thị Vân A vào ngày 16/8/2022 và trộm cắp được chiếc xe máy của chị Đinh Thị V vào ngày 17/8/2022. Sau khi trộm cắp, P đã mang bán cho anh Lâm và chị Tươi, khi bán P không nói cho anh Lâm, chị Tươi biết nguồn gốc chiếc xe là do trộm cắp mà có. Ngoài ra còn khai: Ngày 18/8/2022, P đi bộ đến khu vực bãi gửi xe nhà I của Bệnh viện Việt Tiệp thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave biển số 16F5-2693 chị Đặng Thị D, sinh năm 1971, trú tại: số 236 T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. P tiến lại gần, mở khóa điện của xe rồi điều khiển ra khu vực nhà soát vé cổng 2 Bệnh viện Việt Tiệp và đưa 01 chiếc vé cho nhân viên soát vé rồi lấy xe ra đi đến khu vực đường tàu T, quận L, Hải Phòng bán cho người nam giới tên T được 600.000đồng.
Bị hại chị Phạm Thị Vân A và chị Đinh Thị V đều khai: Các chị đã gửi xe và đã lấy vé xe tại khu vực gửi xe của Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng; khi phát hiện bị mất xe, các chị đã trình báo đến tổ trông xe của bệnh viện và giao nộp 02 vé gửi xe cho cơ quan điều tra. Hiện các chị đã nhận lại được chiếc xe của mình và không có yêu cầu bồi thường gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đào Văn L và chị Hoàng Thị T khai: Khi mua xe máy của P, anh chị không biết nguồn gốc chiếc xe là do trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp 02 chiếc xe máy cho cơ quan điều tra và không yêu cầu bồi thường gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phạm Việt N khai: Anh là ca trưởng trông xe tại Bệnh việt Việt Tiệp Hải Phòng với nhiệm vụ là giám sát và quản lý tại bãi gửi xe, nếu xảy ra mất xe thì phải có trách nhiệm bồi thường. Vào ngày 16/8/2022 nhân viên soát vé đã để xảy ra sự việc mất trộm chiếc xe máy Honda Airblade biển kiểm soát 16P4-5752 của chị Phạm Thị Vân A; ngày 17/8/2022 đã xảy ra sự việc mất trộm chiếc xe máy Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16M2-4648 của chị Đinh Thị V. Anh đã nhận lại 02 chiếc xe máy trên và giao trả lại cho chị Vân Anh và chị Việt nên anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Đối với nam giới tên T đã có hành vi cùng P mang chiếc xe máy biển kiểm soát 16M2-4648 đi bán vào ngày 17/8/2022 và mua chiếc xe máy biển kiểm soát 16F5-2693 của P đã trộm cắp ngày 18/8/2022, có dấu hiệu của hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Hiện chưa xác định được lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với anh L và chị T đã có hành vi mua xe máy của P, quá trình điều tra xác định, khi mua xe thì anh L và chị T không biết nguồn gốc xe là do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 xe máy Honda Wave biển kiểm soát 16F5-2693, P khai trộm cắp ngày 18/8/2022, hiện chưa thu hồi được, chưa định giá được giá trị tài sản. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm tang vật số 21 ngày 04/10/2022 và ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 03 ngày 05/11/2022.
Tại Cáo Trạng số 02/CT-VKSLC ngày 08 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Cà Văn P về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cà Văn P mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép tổ ong màu trắng, 01 áo chống nắng màu tím than, 01 mũ bảo hiểm, 02 vé gửi xe thu giữ của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 15 giờ ngày 16/08/2022, bị cáo Cà Văn P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 16P4-5752 trị giá 20.000.000đồng của chị Phạm Thị Vân A và khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/08/2022, bị cáo Cà Văn P lại tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16M2-4648 trị giá 4.000.000đồng của chị Đinh Thị V tại khu vực bãi gửi xe của Bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp; tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 24.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao, bị cáo đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, dùng thủ đoạn lén lút để chiếm đoạt tài sản.Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nên khi lượng hình cũng cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo sơmi dài tay màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép tổ ong màu trắng, 01 áo chống nắng màu xanh, 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai thu giữ của bị cáo, xét là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về các vấn đề khác:
Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Cà Văn P 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 19 tháng 8 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần dài màu đen, 01 đôi dép tổ ong màu trắng, 01 áo chống nắng tím than, 01 mũ bảo hiểm có lưỡi trai, 02 vé gửi xe thu giữ của bị cáo.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Hoàng Thị T có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phạm Việt N và anh Đào Văn L có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND TP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Cơ quan CSĐT Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS Công an quận Lê Chân; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Sở tư pháp TP Hải Phòng; - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng; - UBND xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hƣơng |