- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cao Tuấn V phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Tuấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 14 - 03 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Phúc Tuệ
Ông Đinh Xuân Phầu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Tuấn V - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 26/12/1995 tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã V, huyện H, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Cao Xuân T, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị H, sinh năm: 1972; Vợ, con: Chưa có; tiền án: không, tiền sự: có 01 tiền sự: Ngày 02/9/2022 có hành vi Trộm cắp tài sản, bị Công an huyện Tuyên Hoá ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, tại quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 14/10/2022, Cao Tuấn V chưa thi hành quyết định xử phạt. Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình từ ngày 20/12/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
* Bị hại:
1. Anh Trần Xuân B, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
2. Anh Lê Đức Anh, sinh năm: 1987
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Quang H, sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Thôn 2 xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1973.
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: Thôn S, xã V, huyện H, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).
4. Anh Cao Xuân T, sinh năm: 1969.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện H, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
* Người làm chứng: Anh Trần Văn Sinh, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Thôn Lê Lợi, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 10/10/2022, Cao Tuấn V từ nhà ở của mình quan sát qua nhà anh Trần Xuân B ở cùng thôn, thấy không có người ở nhà, nên V nảy sinh ý định đi qua lấy trộm tài sản. V đi bộ ra đường, trèo lên hàng rào nhà anh Báu, nhìn thấy bên trong hàng rào có một số tài sản nên đã lén lút lấy trộm 01 (một) máy bơm nước; 01(một) máy đục bê tông; 01 (một) máy khoan bê tông; 01 (một) máy cắt kim loại và 02 (hai) cuộn dây điện. Sau đó ít ngày, V mang máy đục bê tông đến bán cho anh Trần Quang H với giá 320.000đồng (ba trăm hai mươi nghìn đồng). Đến khoảng 10 ngày sau, V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44 vận chuyển máy cắt kim loại, máy khoan bê tông và hai cuộn dây điện đến bán cho anh Nguyễn Văn M với giá 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó V tiếp tục mang máy bơm nước còn lại đến bán cho anh Nguyễn Văn D với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền bán được số tài sản nói trên, V đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số: 38/KL-HĐĐG ngày 28/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Tuyên Hóa kết luận các tài sản có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt gồm:
- 01 máy cắt kim loại cầm tay, nhãn hiệu ROMANO, màu xanh, đã qua sử dụng, có giá trị 800.000đồng.
- 01 máy khoan bê tông cầm tay, nhãn hiệu BTEC, màu đỏ - đen, đã qua sử dụng, có giá trị 1.000.000đồng.
- 01 máy bơm nước chân không loại SUMBMERSIBLE PUMP, nhãn hiệu TAILU, màu đỏ - đen, đã qua sử dụng, có giá trị 500.000đồng.
- 01 máy đục bê tông, loại cầm tay, nhãn hiệu GEOX, màu đỏ - đen, đã qua sử dụng, có giá trị 1.300.000đồng.
- 01 cuộn dây điện, loại 3 x 2.5, dài 60m, màu xám, đã qua sử dụng, có giá trị 600.000đồng.
- 01 cuộn dây điện, loại 3 x 2.5, dài 70m, màu xám, đã qua sử dụng, có giá trị 700.000đồng.
Tổng trị giá các tài sản bị chiếm đoạt có giá 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
Trong khi hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/10/2022 đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa thụ lý điều tra, Cao Tuấn V lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khoảng 07 giờ ngày 04/11/2022, Cao Tuấn V đi bộ một mình trên đường bê tông nội thôn, khi đi ngang qua nhà anh Lê Đức A ở cùng thôn, phát hiện trước sân nhà anh A có treo một lồng chim bên trong có nuôi một con chim chích chòe lửa, thấy trong nhà không có người nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. V lén lút đi bộ vào sân nhà anh A tiến tới vị trí treo lồng chim, dùng tay lấy lồng chim xách về cất giấu tại ngôi nhà không có người ở cạnh nhà của V, chưa kịp tiêu thụ tài sản thì đã bị phát hiện.
Tại bản kết luận định giá số 41/KL-HĐĐG ngày 16/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Tuyên Hóa kết luận các tài sản có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt gồm:
- 01 con chim Chích chòe lửa, lông màu đen – đỏ gạch, khoảng 02 năm tuổi, có lông đuôi dài 20 cm, có giá 1.500.000 đồng;
- 01 lồng nuôi chim bằng kim loại, hình trụ tròn, có đường kính 40 cm, cao 60 cm, lồng đã cũ, có giá 100.000 đồng.
Tổng trị giá các tài sản có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã thu giữ các vật chứng, cụ thể:
+ 01 (một) máy cắt kim loại, màu xanh, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) máy khoan bê tông loại cầm tay, màu đỏ - đen, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) máy bơm nước chân không có ký hiệu: SUMBMERSIBLE PUMP, màu đỏ đen, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cuộn dây điện, loại 3x2.5, dài 60m, màu xám, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cuộn dây điện, loại 3x2.5, dài 70m, màu xám, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44, nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE RSX, xe đã qua sử dụng.
Ngày 19/12/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại máy cắt kim loại, máy khoan bê tông, máy bơm nước và hai cuộn dây điện nêu trên cho người bị hại anh Trần Xuân B là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44 mà V điều khiển chở tài sản trộm cắp đi bán là xe của gia đình ông Cao Xuân T (bố đẻ của V), xác định xe có giấy tờ hợp pháp và việc V lấy xe đi bán tài sản trộm cắp thì ông T không biết, nên ngày 30/12/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nói trên cho ông Cao Xuân T.
Đối với vật chứng là lồng chim và con chim chích chòe lửa, ngày 04/11/2022 Công an xã Văn Hóa đã bàn giao cho anh Lê Đức A là chủ sở hữu quản lý, chăm sóc. Đến ngày 09/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho anh Lê Đức A theo quy định.
Đối với vật chứng là 01 (một) máy đục bê tông, loại cầm tay; Nhãn hiệu: GEOX, màu đỏ - đen, máy đã cũ. Sau khi lấy trộm được V mang đến bán cho anh Trần Quang H, nhưng do máy bị hư hỏng không sử dụng được nên anh H đã bán cho một người phụ nữ lạ thu mua phế liệu. Quá trình điều tra không xác định được người phụ nữ này là ai, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuyên Hóa không thu giữ được vật chứng này.
Về dân sự:
Người bị hại anh Trần Xuân B và anh Lê Đức A, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D, anh Trần Quang H không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M yêu cầu Cao Tuấn V bồi hoàn lại số tiền 1.650.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 09/CT – VKSTH – HS ngày 21/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Cao Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Cao Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Cao Tuấn V từ 12 đến 15 tháng tù. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/12/2022);
Xử lý vật chứng: Không xem xét;
Về dân sự: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Cao Tuấn V phải bồi hoàn cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M số tiền 1.650.0000đồng. Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán tài sản là 620.000đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Cao Tuấn V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị hại và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 10/10/2022 Cao Tuấn V quan sát thấy nhà anh Trần Xuân B ở cùng thôn không có người ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. V đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà anh B và lấy trộm 01 (một) máy bơm nước; 01(một) máy đục bê tông; 01 (một) máy khoan bê tông; 01 (một) máy cắt kim loại và 02 (hai) cuộn dây điện. Sau khi trộm cắp tài sản, Cao Tuấn V đã đem máy đục bê tông đến bán cho anh Trần Quang H với giá 320.000đồng, bán máy cắt kim loại, máy đục bê tông và 02 cuộn dây điện cho anh Nguyễn Văn M với giá1.650.000đồng, bán máy bơm nước cho anh Nguyễn Văn D với giá 300.000đồng. Sau đó bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết toàn bộ số tiền trên. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Trần Xuân B có tổng giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.900.000đồng (bốn triệu chín trăm nghìn đồng).
Sau khi có hành vi trộm cắp vào ngày 10/10/2022 đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa thụ lý điều tra, đến ngày 04/11/2022 tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cao Tuấn V đang đi bộ trên đường ngang qua nhà anh Lê Đức A ở cùng thôn, nhìn thấy bên trong có treo một lồng chim bên trong có một con chim chích chòe lửa. Thấy nhà không có người V đã lén lút đi bộ vào sân nhà của anh Anh, lấy trộm lồng chim đem về cất giấu tại ngôi nhà không có người ở sát nhà của bị cáo. V chưa kịp đem tài sản đi tiêu thụ thì bị phát hiện. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại Lê Đức A có tổng giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.600.000đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo là lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại anh Trần Xuân B với tổng giá trị tài sản là 4.900.000đồng. Ngày 04/11/2022 Cao Tuấn V tiếp tục trộm cắp của anh Lê Đức A với giá trị tài sản là 1.600.000đồng, tuy lần trộm cắp này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng trước đó ngày 02/9/2022 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an huyện Tuyên Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 14/10/2022, bị cáo vẫn chưa thi hành quyết định xử phạt do đó bị cáo bị truy tố theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần nên phải áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Cao Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó có đủ cơ sở khẳng định Cao Tuấn V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Tuấn V có một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phạm tội 02 lần trở lên vì bị cáo đã thực hiện 02 lần phạm tội Trộm cắp tài sản vào ngày 10/10/2022 và 04/11/2022 bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cao Tuấn V trong quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về mức án mà Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá đề nghị xử phạt bị cáo Cao Tuấn V từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là hết sức liều lĩnh, táo bạo, lợi dụng sự quản lý sơ hở của bị hại lén lút đột nhập vào nhà của bị hại ngày giữa ban ngày để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Mặt khác, bị cáo có nhân thân xấu: ngày 02/9/2022 bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an huyện Tuyên Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền tại Quyết định số 78/QĐ-XPHC ngày 14/10/2022, bị cáo vẫn chưa thi hành quyết định xử phạt mà lại tiếp tục phạm tội. Trong khi bị cáo đang bị Công an điều tra về hành vi trộm cắp ngày 10/10/2022 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 04/11/2022. Chứng tỏ, bị cáo coi thường pháp luật, thể hiện bản chất lười lao động chỉ muốn hưởng thụ bằng tài sản của người khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đề nghị về mức án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá để xử phạt bị cáo đúng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành người tiến bộ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử bị cáo là phù hợp.
Liên quan trong vụ án có anh Trần Quang H, anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn D là những người mua lại tài sản do Cao Tuấn V trộm cắp mà có. Tuy nhiên anh H, anh M và anh D không biết về hành vi phạm tội của V, nên hành vi của anh Trần Quang H, anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn D không cấu thành tội phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Cao Xuân T là chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44 mà Cao Tuấn V sử dụng để vận chuyển tài sản trộm cắp đi tiêu thụ, quá trình điều tra xác định anh T không liên quan đến hành vi phạm tội của V. Vì vậy hành vi của anh Cao Xuân T không vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Số vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa đã thu giữ, gồm có:
+ 01 (một) máy cắt kim loại, màu xanh, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) máy khoan bê tông loại cầm tay, màu đỏ - đen, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) máy bơm nước chân không có ký hiệu: SUMBMERSIBLE PUMP, màu đỏ đen, máy đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cuộn dây điện, loại 3x2.5, dài 60m, màu xám, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) cuộn dây điện, loại 3x2.5, dài 70m, màu xám, đã qua sử dụng.
+ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44, nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE RSX, xe đã qua sử dụng.
Ngày 19/12/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại máy cắt kim loại, máy khoan bê tông, máy bơm nước và hai cuộn dây điện nêu trên cho người bị hại anh Trần Xuân Báu là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 73D1-143.44 mà V điều khiển chở tài sản trộm cắp đi bán là xe của gia đình ông Cao Xuân T (bố đẻ của V), xác định xe có giấy tờ hợp pháp và việc V lấy xe đi bán tài sản trộm cắp thì ông T không biết, nên ngày 30/12/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô nói trên cho ông Cao Xuân T.
Đối với vật chứng là lồng chim và con chim chích chòe lửa, ngày 04/11/2022 Công an xã Văn Hóa đã bàn giao cho anh Lê Đức A là chủ sở hữu quản lý, chăm sóc. Đến ngày 09/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuyên Hóa ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho anh Lê Đức A theo quy định.
Đối với vật chứng là 01 (một) máy đục bê tông, loại cầm tay; Nhãn hiệu: GEOX, màu đỏ - đen, máy đã cũ. Sau khi lấy trộm được V mang đến bán cho anh Trần Quang H, nhưng do máy bị hư hỏng không sử dụng được nên anh H đã bán cho một người phụ nữ lạ thu mua phế liệu. Quá trình điều tra không xác định được người phụ nữ này là ai, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuyên Hóa không thu giữ được vật chứng này.
Toàn bộ số vật chứng đã được xử lý xong, hội đồng xét xử xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu của Cơ quan CSĐT công an huyện Tuyên Hóa là đúng quy định nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại anh Trần Xuân B và anh Lê Đức A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D đã nhận lại sản đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền mua lại máy cắt kim loại, máy khoan bê tông và hai cuộn giấy điện do bị cáo trộm cắp là 1.650.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh M là phù hợp vì anh M không biết đó là tài sản do V trộm cắp mà có nên cần áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo bồi hoàn cho anh Nguyễn Văn M số tiền 1.650.000đồng.
Đối với số tiền 620.000đồng thu lợi bất chính từ việc bán tài sản trộm cắp cho anh Nguyễn Văn D và anh Trần Quang H, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù anh Nguyễn Văn D và anh Trần Quang H không có yêu cầu bị cáo bồi thường. Tuy nhiên, xét thấy đây là số tiền thu lợi bất chính mà có nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 buộc bị cáo phải nộp lại 620.000đồng để xung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Cao Tuấn V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự có giá ngạch: Buộc bị cáo phải chịu 300.000đồng của số tiền phải bồi hoàn cho anh Nguyễn Văn M là 1.650.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Tuấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt Cao Tuấn V 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 20/12/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
3. Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Cao Tuấn V phải bồi hoàn cho anh Nguyễn Văn M số tiền 1.650.000đồng (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015: Buộc bị cáo Cao Tuấn V phải nộp lại số tiền 620.000đồng (sáu trăm hai mươi nghìn đồng) để xung công quỹ Nhà nước.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Cao Tuấn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự có giá ngạch: Bị cáo Cao Tuấn V phải chịu 300.000đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Xuân T. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang H, anh Nguyễn Văn D. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/3/2023). Riêng đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang H, anh Nguyễn Văn D thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án nơi có hộ khẩu thường trú.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Bình; -THADS huyện Tuyên Hóa; - Công an huyện Tuyên Hóa; - VKSND huyện Tuyên Hóa; - Bị cáo, Bị hại; NCQLNVLQ ; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Đoàn Thị Bích Thủy |