- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2023/HS-ST Ngày: 19-4-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Ngọc Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Khâm
Bà Nguyễn Thị Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Đào –Thư ký Toà án nhân dân HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TYtham gia phiên toà: Ông Lộc Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Lƣu Hồng K; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/01/1963 tại huyện TN, tỉnh Nam Định. Nơi ĐKNKTT: thôn TH 2, xã SH, huyện BT, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện tại: Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Bố đẻ Lưu Văn H(Đã chết), mẹ đẻ Nguyễn Thị M, sinh năm 1935, trú tại: Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái; Có vợ là Bùi Thị T, sinh năm 1964 và có một con là Lưu Thị Mai P, sinh năm 2001 – hiện đều trú tại thôn TH 2, xã SH, huyện BT, tỉnh Lào Cai.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 03. Tại Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 06-8-2021 của Công an huyện TYxử phạt tiền về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa thi hành. Tại Quyết định số 2418/QĐ-XPHC ngày 19-5-2022 của UBND xã HT, huyện TY xử phạt hành chính bằng tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa thi hành. Tại Quyết định số 2466/QĐ-XPTT ngày 12-7-2022 của UBND xã HT, huyện TY về áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã với thời hạn là 06 tháng kể từ ngày 29-5-2022.
Bị cáo tại ngoại hiện cư trú tại Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái – Có mặt.
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1974 và bà Đinh Thị Thái H, sinh năm 1974.
Đều trú tại: Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đinh Thị Thái H, ông Nguyễn Minh T-Có mặt.
* Ngƣời làm chứng:
- Ông Đinh Văn Kh, sinh năm 1965. Trú tại: thôn YT, xã H T, HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI. Có mặt.
- Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1971.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965.
- Ông Lưu Văn Đ, sinh năm 1967.
Đều trú tại: Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 19-5-2022, Lưu Hồng K bị UBND xã HT, huyện TYxử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng sau đó Klại tiếp tục trộm cắp tài sản của gia đình ông Nguyễn Minh T, cụ thể: Khoảng 15 giờ ngày 30-8-2022, Kmang theo một con dao dựa lên đồi quế của gia đình ông T chặt 04 cây quế khoảng 09 năm tuổi mục đích về bán lấy tiền chi tiêu cá nhân thì bị Ông Nguyễn Hồng H phát hiện đã gọi Ông Lưu Văn Đ bà Nguyễn Thị Tlên giữ ông Kvà tang vật đồng thời báo Công an lên giải quyết lập biên bản thu giữ 01 con dao tay dài khoảng 50cm; 01 bao dao bằng tre dài khoảng 40cm và 04 cây quế. Đang trong quá trình giải quyết vụ việc trên, ngày 28-9-2022 lại nhận được tin tố giác của nhân dân về việc ông Ktiếp tục trộm cắp tài sản, tiến hành kiểm tra tạm giữ tại nơi ở của K01 chiếc cưa tay; 02 cây quế tươi chưa bóc vỏ dài khoảng 5 mét, 01 cây quế đã bóc vỏ; 01 bó cành, lá quế nặng khoảng 10 kg; 19 đoạn vỏ quế đã được bóc mỗi đoạn dài 40 cm; 01 kg vỏ cành quế đập; 04 kg lá quế tươi. Kthừa nhận 03 cây quế này do Kdùng cưa cắt vào ngày 27-9-2022 là 01 cây và ngày 28-9-2022 là 02 cây mục đích bán lấy tiền sử dụng cá nhân. Tiến hành ghi lời khai ông T và khám nghiệm hiện trường là đồi quế nhà ông T đã xác định trong khoảng thời gian từ ngày 27-9-2022 đến ngày 28-9-2022 gia đình ông T bị mất 03 cây quế, gốc cây bị cưa sát đất.
Tại kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS ngày 20-9-2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện TYkết luận: 04 cây quế tươi có đường kính gốc lớn hơn 2,5 cm, nhưng nhỏ hơn 10 cm bị thiệt hại ngày 30-8-2022 có giá trị là 260.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 25-10-2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện TYkết luận: 02 cây quế tươi có đường kính gốc là 8cm và 9cm có giá trị là 65.000đồng/cây x 02 cây = 130.000 đồng; 01 cây quế tươi có đường kính gốc bằng 10cm có giá trị là 160.000đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị thiệt hại của các ngày 30-8-2022 và 27, 28-9-2022 là 550.000 đồng.
Quá trình điều tra Kcho rằng việc chặt quế là chặt trên phần đất của ông H là bố đẻ của Kđể lại, đồng thời cung cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 270 và 356 cấp năm 2000, qua xác minh, thu thập chứng cứ thì số cây quế bị chặt không nằm trong diện tích đất của bố đẻ Kcung cấp mà vị trí các cây Kđã chặt nằm giữa, trên thửa đất trồng cây lâu năm đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông Nguyễn Minh T, bà Đinh Thị Thái H. Bản thân Kcó nhiều biểu hiện, lời nói mang tính hoang tưởng. Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định pháp y về tâm thần. Tại kết luận giám định pháp y về tâm thần số 162/KLGĐ ngày 30-11-2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận Lưu Hồng K không bị bệnh tâm thần.
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Hồng K khai nhận việc chặt 07 cây quế vào các ngày trên là đúng và quế không do mình trồng nhưng không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa đã chứng minh làm rõ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSTY ngày 15-03-2023 của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI truy tố bị cáo Lưu Hồng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TYluận tội đối với bị cáo giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; khoản 5 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lưu Hồng K từ 09 đến 12 tháng tù.
Phạt bị cáo 5.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dựa dài 46cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm; 01 chiếc cưa bằng kim loại dài 69cm, lưỡi cưa dài 57cm; 01 bao dao làm bằng tre gắn gỗ dài 38cm. Là vật chứng của vụ án đã cũ, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo không nhận tội và không nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nhận tội trộm cắp tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện TY, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lưu Hồng K quanh co chối tội không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, qua các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng,và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, như vậy đã đủ cở sở kết luận: Ngày 19-5-2022, Lưu Hồng K bị UBND xã HT, huyện TYxử phạt hành chính bằng tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản” Theo Quyết định số 2418/QĐ-XPHC chưa thi hành. Sau đó liên tiếp 03 lần trộm cắp tài sản của gia đình ông Nguyễn Minh T, tại Thôn YT, xã HT, huyện TY, tỉnh Yên Bái. Lần thứ nhất khoảng 15 giờ ngày 30-8-2022 chặt trộm 04 cây quế có giá trị là 260.000 đồng, lần thứ hai ngày 27-9-2022 cắt trộm 02 cây quế có giá trị là 130.000 đồng và lần thứ ba ngày 28-9-2022 cắt trộm 01 cây quế có giá trị là 160.000 đồng.
Xét thấy bị cáo Lưu Hồng K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là giáo viên nghỉ hưu, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn lợi dụng sự sơ hở của người khác nhiều lần cố ý thực hiện hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi này của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Hồng K là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Lưu Hồng K có nhân thân xấu, nhiều tiền sự, cụ thể: Tại Quyết định số 24/QĐ-XPHC ngày 06-8-2021 của Công an huyện TYxử phạt hành chính bằng tiền về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” chưa thi hành. Tại Quyết định số 2418/QĐ-XPHC ngày 19-5-2022 của UBND xã HT, huyện TY xử phạt hành chính bằng tiền về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa thi hành. Tại Quyết định số 2466/QĐ-XPTT ngày 12-7-2022 của UBND xã HT, huyện TY về áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã với thời hạn là 06 tháng kể từ ngày 29-5-2022. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học ăn năn hối cải mà nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà thấy rằng, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bản thân bị cáo có bố đẻ là người có công với nước. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dựa dài 46cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm; 01 chiếc cưa bằng kim loại dài 69cm, lưỡi cưa dài 57cm; 01 bao dao làm bằng tre gắn gỗ dài 38cm.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TYngày 17-03-2023.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Hồng K 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Phạt tiền bị cáo Lưu Hồng K 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.
3. Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dựa dài 46cm, phần chuôi bằng gỗ dài 15cm; 01 chiếc cưa bằng kim loại dài 69cm, lưỡi cưa dài 57cm; 01 bao dao làm bằng tre gắn gỗ dài 38cm.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TYngày 17-03-2023.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lưu Hồng K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 ,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện TY; - Công an huyện TY; - Chi cục THADS huyện TY; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Bị cáo; - THA hình sự (02); - Lưu: HSVA, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Phƣơng |