vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 01/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Q 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/3/2023). Giao bị cáo Trần Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc Quang - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH SƠN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày: 01/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH SƠN, TỈNH NINH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khải Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kim Khánh.

2. Ông Đinh Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 12/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 30/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/HSST-QĐ ngày 14/02/2023 đối với bị cáo:

Trần Ngọc Q (Tên gọi khác: Không), sinh năm 2004 tại Ninh Thuận.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn ĐN, xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T và bà Đặng Thị H; Vợ, con: chưa có.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Hoàng Thị L, sinh năm: 1994 (Có mặt).

Nơi cư trú: Thôn ĐN, xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thế D, sinh năm: 1985 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: LB, AH, NH, Ninh Thuận.

2. Chị Đặng Thị H, sinh năm: 1980 (Có mặt).

Nơi cư trú: Thôn ĐN, xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06/11/2022, Bị cáo Trần Ngọc Q thấy nhà chị Hoàng Thị L không có người ở nhà nên nảy sinh ý định vào nhà chị L trộm cắp tài sản bán lấy tiền trả nợ. Q leo qua hàng rào lưới B40 vào nhà chị L, đi đến cửa chính dùng tay giật tay nắm cửa, làm gãy tay nắm cửa, nhưng không mở được cửa vào nhà nên Q đi vòng ra cửa sau, dùng hai tay kéo tôn cánh cửa cho rộng ra rồi chui vào nhà, đến phòng ngủ lục tủ quần áo tìm kiếm tài sản có giá trị, bị cáo phát hiện một cái hộp màu đen bên trong có 01 chiếc nhẫn đeo tay đính đá CZ-WHI RD3.0mmx1- Đá CZ-10KWW-2.051-12. Bị cáo lấy chiếc nhẫn bỏ vào túi quần, rồi đi theo lối vào cũ để về nhà cất giấu. Ngày 08/11/2022, Công an xã NS nghi ngờ Q trộm cắp chiếc nhẫn của chị L nên mời Q lên làm việc, Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại chiếc nhẫn trộm cắp của chị L cho Công an.

Tại kết luận định giá tài sản số 18 ngày 08/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Ninh Sơn kết luận: 01 chiếc nhẫn đeo tay đính đá CZ-WHI RD3.0mmx1- Đá CZ-10KWW-2.051-12 trị giá 4.230.000 đồng.

Cáo trạng số: 02/CT-VKS-NS ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NS, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Trần Ngọc Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NS vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về thu giữ, tạm giữ đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ, sau đó trả lại 01 chiếc nhẫn đeo tay đính đá CZ-WHI RD 3.0mmx1- Đá CZ-10KWW-2.051-12 cho chủ sở hữu là bị hại Hoàng Thị Lý.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Hoàng Thị L đã nhận lại tài sản và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo rất ăn năn, hối cải, xin lỗi gia đình, xin lỗi chị Lý và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NS, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 06/11/2022, tại nhà chị Hoàng Thị L ở thôn ĐN, xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, bị cáo Trần Ngọc Q đã có hành vi lén lút lấy trộm: 01 chiếc nhẫn đeo tay có đính đá CZ-WHI RD3.0mmx1- Đá CZ-10KWW-2.051-12 trị giá 4.230.000 đồng của chị L.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 02/CT-VKS-NS ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NS, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX áp dụng điều 65 Bộ luật hình để xét xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng rang đe, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Người bị hại là chị Hoàng Thị L đã nhận lại tài sản bị mất, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 2 và Điều 6 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Q 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/3/2023).

2. Giao bị cáo Trần Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã NS, huyện NS, tỉnh Ninh Thuận giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Ngọc Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/3/2023).

Cỡ chữ