vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/02/2023. Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với gia đình bị cáo giám sát và giáo dục trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
–––––––––––––––
Bản án số: 10/2023/HS-ST
Ngày 15-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Trần Văn Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T, sinh ngày 01 tháng 10 năm 2003 tại Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Ngã Ngay, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Danh và bà Nguyễn Thị Bé Bảy; anh chị em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án: không; tiền sự: không; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị Bé Bảy, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: ấp Ngã Ngay, xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

-Người làm chứng:

1/ Nguyễn Thị Mỹ Linh, sinh năm 2000 (có mặt)

2/ Bùi Hoàng Nhiên, sinh năm 1997(có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Phước Lộc Thọ, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu nợ không có tiền trả, khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 30/9/2022. Bị cáo Nguyễn Minh T thức dậy, T cầm theo điện thoại di động từ phòng ngủ của T đi đến phòng ngủ của mẹ ruột là Nguyễn Thị Bé Bảy đang điều trị bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long không có nhà. Lúc này T lén lút mở cửa phòng ngủ của Bé Bảy, trong phòng không có người, không có bật đèn chiếu sáng nên T mở đèn Flash điện thoại di động đang cầm trên tay sáng lên rọi để đi đến tủ quần áo làm bằng nhôm, cửa kiếng, không khoá trong phòng ngủ của Bé Bảy mở cửa tủ tìm kiếm và lấy túi xách màu xanh trong tủ quần áo đem ra để trên giường ngủ của Bé Bảy, rồi mở túi xách ra lấy hết tiền và vàng trong túi xách, không có kiểm tra lấy được bao nhiêu tiền và vàng. T đi xuống nhà bếp lấy cái túi ni lông màu vàng bỏ tiền và vàng vừa trộm được vào túi ni lông đem đi ra trước sân nhà mở cốp yên xe mô tô biển kiểm soát: 36P6-7898 của T đang đậu trước sân nhà, T bỏ túi ni lông vào cốp yên xe. Sau đó T đi lại cửa nhà sau, mở cửa ra mục đích là làm hiện trường giả, rồi đi vào trong nhà trở về phòng ngủ. Đến khoảng 05 giờ 40 phút sáng ngày 30/9/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 36P6-7898 đi làm tại cửa hàng vật liệu xây dựng “Minh Phụng” thuộc ấp Phước Chí, xã Bình Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Khi đến cửa hàng vật liệu xây dựng “Minh Phụng” T lấy tiền và vàng trộm được từ trong cốp yên xe mô tô biển kiểm soát: 36P6-7898 bỏ vào trong người, sau đó T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64C-075.68 đi chở vật liệu xây dựng, chạy khoảng 01 km thì T dừng xe lại và mở bô-e xe ô tô tải ra để cất giấu tiền và vàng bên trong bô-e xe. Khi T cất giấu tiền và vàng xong T điện thoại cho mẹ là Bé Bảy nói "cửa nhà sau và bên hông bị ai mở toang ra", nên Bé Bảy điện thoại kêu con gái tên Linh vào phòng ngủ kiểm tra tài sản, khi vào kiểm tra thì Linh thấy cái túi xách màu xanh của Bé Bảy bị ai đem để trên giường và không thấy tài sản trong túi xách nên Bé Bảy biết được sự việc chạy về nhà để kiểm tra lại tài sản, thì phát hiện bị mất số tiền là 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) và vàng gồm có: 01 (một) chiếc nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 03 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 8 phân 03; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 07 phân, được để trong cái túi xách màu xanh trong tủ quần áo làm bằng nhôm, cửa kiếng. Sự việc được trình báo đến Công an xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long mời T làm việc và đã thừa nhận hết hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Tiền Việt Nam đồng: 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng).

- 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO Reno6, 5G màu đen; 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 36P6-7898 đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 03 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 8 phân 03; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 07 phân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 33/KLĐGTS, ngày 07/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long kết luận như sau: 01 (một) chiếc nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 03 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 8 phân 03; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 07 phân. Tổng giá trị tài sản tại thời định giá còn lại là: 21.363.300đ (Hai mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng).

Tổng số tiền và vàng bị chiếm đoạt là: 47.363.300đ (Bốn mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng).

Ngày 09/10/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với: Nguyễn Minh T, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về vật chứng của vụ án:

Ngày 01/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại Tiền Việt Nam đồng: 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng); 01 (một) chiếc mô tô biển kiểm soát: 36P6-7898; 01 (một) chiếc nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 03 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 8 phân 03; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 07 phân, cho chủ sở hửu xong trong giai đoan điều tra và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO Reno6, 5G màu đen cũ đã qua sử dụng là của bị cáo Nguyễn Minh T có liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị Bé Bảy trình bày: Về trách nhiệm dân sự chị không có yêu cầu gì đối với bị cáo T, về trách nhiệm hình sự chị xin giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Minh T.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS.HMT, ngày 30/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Minh T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO Reno 6,5G màu đen đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mang Thít, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận: Tại nhà Nguyễn Thị Bé Bảy, Nguyễn Minh T đã hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản số tiền là 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) và 01 (một) chiếc nhẫn trơn vàng 24k, trọng lượng 01 chỉ; 01 (một) sợi dây chuyền vàng 16k, trọng lượng 03 chỉ 08 phân; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 8 phân 03; 01 (một) chiếc nhẫn kiểu đính hột trắng vàng 16k, trọng lượng 07 phân, có tổng giá trị tài sản tại thời điểm định giá còn lại là: 21.363.300đ (Hai mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm đồng). Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thành tiền là: 47.363.300đ (Bốn mươi bảy triệu, ba trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm đồng) một cách trái pháp luật. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo T đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo T đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Bị cáo T vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin bãi nại cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cải tạo bị cáo giúp bị cáo trở thành công dân hữu ích.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO Reno 6,5G màu đen đã qua sử dụng.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/02/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Minh T cho Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với gia đình bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong, miễn xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO Reno 6,5G màu đen đã qua sử dụng. (Hiện vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03 tháng 01 năm 2023).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Vĩnh Long;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Vĩnh Long;

- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;

- Phòng hồ sơ – Công an tỉnh VL;

- VKSND huyện Mang Thít;

- Công an huyện Mang Thít;

- Chi cục THADS huyện Mang Thít;

- UBND xã Tân Long, huyện Mang Thit;

- Bị cáo;

Nguyễn Phước Hùng

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Hùng

Cỡ chữ