vanban.org

Bản án 10/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2023/HS-ST
Ngày: 09-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Thúy.

Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Thủy và bà Cao Thị Hải An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 210/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 27/01/2023, đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1983 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H, sinh năm 1954; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1958; Vợ: Ngô Thị Thanh H1, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); Con: Nguyễn Thị Bảo N, sinh năm 2000; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 41/2019/HSST ngày 18/4/2019. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/7/2019; Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 06/5/2022; Nhân thân: Năm 2002, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 15 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 07/2002/HSST ngày 31/01/2002; Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 50/2005/HSST ngày 21/6/2005. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/02/2006; Năm 2006, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 87/2006/HSST ngày 29/9/2006. Chấp hành xong án phạt tù ngày 13/01/2007; Năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 40/2011/HSST ngày 26/5/2011. Chấp hành xong án phạt tù ngày 18/3/2013. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2022 tại Trại tạm giam công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Hoàng Thị T1; sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Trú tại: xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

2. Bà Quế Thị H2, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Trú tại: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1954; Trú tại: xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/8/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HANSOM, biển kiểm soát 37P7-4694, đi từ nhà đến xã D, huyện D để tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T đi đến quán tạp hóa của bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1969, trú tại xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quan sát thấy quán không có người trông coi, T đi bộ vào quán lấy trộm 01 (một) thùng bia nhãn hiệu Hà Nội, 01 (một) thùng sữa nhãn hiệu Vinamilk rồi đem ra để lên xe mô tô và tiếp tục di chuyển để tìm người tiêu thụ. Đến đoạn đường liên xã giữa xã D và xã D, Nguyễn Văn T gặp một người phụ nữ trung niên lạ mặt đi buôn đồ đồng nát. T đề nghị bán số hàng vừa trộm được thì người phụ nữ lạ đồng ý mua và trả cho T số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 05/9/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HANSOM, biển kiểm soát 37P7-4694 đi qua quán tạp hóa của bà Quế Thị H2, sinh năm 1970, trú tại xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quan sát thấy quán tạp hóa không có người trông coi, Nguyễn Văn T dừng xe mô tô trước cửa hàng tạp hóa, đi bộ vào trong và lấy 01 (một) két bia Huda, 02 (hai) két bò húc rồi đặt lên xe mô tô thì T gặp bà Quế Thị H2 đang đi về trước quán. Thấy có người lạ mang bia và bò húc trong quán đi ra, bà H2 hỏi “Bia và bò húc đâu đó?” thì T trả lời “Của tôi mua” và nhanh chóng điều khiển xe mô tô phóng đi. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường gần chợ G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T gặp một người đàn ông lạ mặt và hỏi “Lấy bia và nước ngọt không, tôi bán rẻ cho” thì người này đồng ý mua số hàng hóa trên và trả cho T số tiền là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi bán được số hàng đã trộm, Nguyễn Văn T điều khiển xe đi về nhà mình.

Ngày 05/9/2022 và ngày 19/9/2022 bà Quế Thị H2 và bà Hoàng Thị T1 đã làm đơn trình báo về việc mất tài sản của mình đến cơ quan chức năng.

Ngày 19/9/2022, Nguyễn Văn T đã đến Công an xã D, huyện D đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản ngày 26/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện D kết luận:

- 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Hà Nội, loại thùng bia 24 lon, (dung tích 330ml/lon) giá: 255.000 đồng (Hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng);

- 01 (một) thùng sữa nhãn hiệu Vinamilk, loại thùng 48 hộp (dung tích 180 mi/hộp) giá: 325.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng);

- 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Huda, loại thùng bia 24 lon, (dung tích 330ml/lon) giá: 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng);

- 02 (hai) két bò húc nhãn hiệu Redbull (loại két 24 lon, dung tích 250ml/lon) giá: 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền: 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng

Vật chứng:

- 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Hà Nội, loại thùng bia 24 lon (dung tích 330ml/lon); 01 (một) thùng sữa nhãn hiệu Vinamilk, loại thùng 48 hộp (dung tích 180 mi/hộp); 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Huda, loại thùng bia 24 lon (dung tích 330ml/lon); 02 (hai) két bò húc nhãn hiệu Redbull, loại két 24 lon (dung tích 250ml/lon). Các vật chứng trên, Nguyễn Văn T đã bán cho những người không xác định được danh tính nên cơ quan CSĐT Công an huyện D không truy thu được.

- 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu HANSOM, màu sơn đen, biển kiểm soát 37P7-4694 thu giữ của Nguyễn Văn T. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H.

Tại bản cáo trạng số 231/CT-VKSDC ngày 22/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về dân sự: bị hại không yêu cầu nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: đã được xử lý theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận:

Trong thời gian từ ngày 19/8/2022 đến ngày 05/9/2022, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, Nguyễn Văn T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các xã D và xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổng giá trị tài sản là 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng). Mặc dù trị giá tài sản chiếm đoạt của bị cáo dưới 2.000.000 đồng nhưng Nguyễn Văn T đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự công cộng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 04 lần bị Toà án đưa ra xét xử, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ thái độ coi thường pháp luật nên cần xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã đến công an đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo bán 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Hà Nội, loại thùng bia 24 lon (dung tích 330ml/lon); 01 (một) thùng sữa nhãn hiệu Vinamilk, loại thùng 48 hộp (dung tích 180 mi/hộp); 01 (một) két bia nhãn hiệu bia Huda, loại thùng bia 24 lon (dung tích 330ml/lon); 02 (hai) két bò húc nhãn hiệu Redbull, loại két 24 lon (dung tích 250ml/lon) tổng giá trị là 700.000 đồng. Là tiền do phạm tội mà có nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã trả lại chủ sở hữu đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 19/09/2022).

2. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) tại bị cáo Nguyễn Văn T.

3. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ