- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS-ST Ngày: 05-4-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Phê;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Công Tâm
Ông Nguyễn Văn Hơn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/HSST- QĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn C; Sinh năm 1975.
- Tên gọi khác: Không có.
- Nơi sinh: xã TA, huyện TN, tỉnh Cần Thơ (nay là xã TT, huyện CĐ, thành phố cần Thơ).
- Đăng ký thường trú: Không có nơi đăng ký thường trú
- Nơi tạm trú: Không có nơi tạm trú
Chỗ ở hiện nay: Không có chổ ở cố định
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Làm thuê.
- Trình độ học vấn: không biết chữ;
- Con ông Trương Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th (đã chết), bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Thị H sinh năm 1979, nơi tạm trú: số 167, đường LTT, khu phố 6, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (Không có đăng ký kết hôn).
- Tiền án, tiền sự: Không có.
- Về nhân thân:
- Ngày 22/4/1994, bị Tòa án nhân dân huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong án phạt tù ngày 04/6/1995. Đến ngày 19/4/2021, bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 13/4/1996, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong án phạt tù ngày 27/4/1998. Đến ngày 19/4/2021, bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 23/01/1999, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong án phạt tù ngày 07/11/2002. Đến ngày 19/4/2021, bị cáo đã được xóa án tích.
- Ngày 27/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 09/11/2015. Đến ngày 19/4/2021, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo Trương Văn C bị tạm giữ từ ngày 24/11/2022 chuyển tạm giam từ ngày 27/11/2022 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ - Công an huyện Chợ Lách.
- Bị hại:
+ Nguyễn Vũ L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp TX, xã HKTB, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
+ Trần Ngọc N, sinh năm 1988 Địa chỉ: Ấp TX, xã HKTB, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Văn U, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp TX, xã HKTB, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 19/4/2021, Trương Văn C điều khiển xe đạp đi từ nhà trọ đã thuê thuộc xã TH, huyện MCN, tỉnh Bến Tre đến địa bàn xã HKTB, huyện C để mua trái dừa khô về làm giống. Trên đường đi ngang phần đất của anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1984, nơi cư trú: Địa chỉ: Ấp TX, xã HKTB, huyện C, tỉnh Bến Tre thuê canh tác thì nhìn thấy bên trong hàng rào lưới B40 có nhiều chậu mai con đã được ghép mai dảo Thủ Đức và Đại Lộc nên nảy sinh ý định lấy trộm nhưng do trời còn sáng nên C điều khiển xe đạp về nhà trọ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, C điều khiển xe đạp mang theo 02 giỏ bẹ, 01 cái kéo, nhiều bao và túi nylon quay trở lại phần đất của anh L thuê. Khi đến, C dựng xe trên lộ cạnh hàng rào rồi dùng kéo tháo lưới rào B40 đột nhập vào trong lấy các chậu cây mai chất đầy hai giỏ bẹ và bỏ vào các túi nylon rồi đem ra xe chở đến khu vực trước nhà lồng Chợ PL, xã HKTB, chất các chậu cây mai vừa trộm được ra sân của nhà lồng chợ rồi tiếp tục quay trở lại để trộm lần thứ hai rồi đem về để cùng với số cây đã lấy trước đó. Sau hai lần, C đã lấy được 150 (một trăm năm mươi) chậu cây mai. Đến khoảng 01 giờ 20 phút ngày 20/4/2021, C thực hiện hành vi trộm lần thứ ba và đã lấy trộm được 34 (ba mươi bốn) chậu cây mai bỏ vào trong túi nylon và chất vào trong hai giỏ bẹ mang ra xe thì bị vợ của anh L là chị Trần Ngọc N, sinh năm 1988 điều khiển xe mô tô đi ngang nhìn thấy sự việc nên gọi điện thoại cho anh L biết, thấy vậy nên C bỏ đi. Anh L gọi điện thoại báo tin cho Công an xã Hưng Khánh Trung B rồi đi đến đất vườn của mình nhưng không nhìn thấy C nên anh cùng với anh Nguyễn Văn U, sinh năm 1977, nơi cư trú: ấp TX, xã HKTB, huyện C và lực lượng Công an xã Hưng Khánh Trung B đi tìm thì phát hiện C đang đi bộ trên Huyện lộ 41 nên mời về trụ sở Công xã Hưng Khánh Trung B làm việc. Tại Công an xã, C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 28/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Chợ Lách thì 184 (một trăm tám mươi bốn) cây mai vàng đã được ghép mai Đại Lộc và mai dảo Thủ Đức, trong đó có 16 (mười sáu) cây được ghép mai Đại Lộc, 168 (một trăm sáu mươi tám) cây được ghép mai dảo Thủ Đức. Tất cả các cây mai có kích cỡ tương tự nhau, chiều cao các cây từ 15cm đến 25cm, đường kính gốc từ 01cm đến 1,2cm; Có 04 (bốn) cây được trồng trong chậu bê tông hình tròn, đường kính miệng chậu 25cm, cao 12cm, 01 (một) cây được trồng trong chậu bê tông hình tròn, đường kính miệng chậu 20cm, cao 10cm, các cây còn lại được trồng trong chậu nhựa màu đen hình tròn (loại chậu C6) có giá trị 6.440.000 đồng (sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
Theo Kết luận giám định số 14/2021/GĐĐV ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận dấu vết đường vân trên chỉ bản ký hiệu A, nêu tại mục II.1 so với dấu vết đường vân trên 02 (hai) danh chỉ bản mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 nêu tại mục II.2 là của cùng một người.
Theo Kết luận giám định số 02/2022/GĐĐV ngày 14/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận dấu vết đường vân trên chỉ bản ký hiệu A, nêu tại mục II.1 so với dấu vết đường vân trên danh chỉ bản mẫu so sánh ký hiệu M nêu tại mục II.2 là của cùng một người.
Theo Kết luận giám định số 12/2023/GĐĐV ngày 10/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận dấu vết đường vân trên chỉ bản mang họ, tên Trương Văn C, sinh năm 1975, lập ngày 20/4/2021 tại Công an xã Hưng Khánh Trung B (ký hiệu A) nêu tại mục II.1 so với vân tay trên danh, chỉ bản số 000000140 mang họ, tên Trương Văn C, sinh năm 1977, không có nơi cư trú nhất định, lập ngày 23/7/2012 tại Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (bản sao y tài liệu lưu trữ, ngày 03/01/2023 của Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Bình Dương (ký hiệu M) nêu tại mục II.2 là của cùng một người.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSCL, ngày 06-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách đã truy tố bị cáo Trương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Văn C từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù; Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Vũ L: 184 (một trăm tám mươi bốn) chậu cây mai vàng đã được ghép mai Đại Lộc và mai dảo Thủ Đức như mô tả nêu trên;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Martin, màu sơn bạc,
Tịch thu tiêu hủy gồm:
+ Một thanh sắt nằm ngang hình chữ nhật kích thước 04cm x 02cm, dài 83cm cột trên yên sau xe;
+ 02 (hai) cái giỏ đan bằng nhựa màu vàng xanh có cùng kích thước 30cm x 70cm x 40cm (thường gọi giỏ bẹ);
+ 01 (một) cái kéo mũi nhọn dài 23,5cm, cán kéo được bọc nhựa màu đen;
+ 01 (một) cái bao bằng nhựa màu xanh, sọc màu đỏ, kích thước 60cm x 100cm;
+ 01 (một) cái bao bằng nhựa màu trắng, kích thước 60cm x 100cm, trên bao có chữ “ĐẶC SẢN - TS5 ĐẸP - GIÁ KHANG”;
+ 08 (tám) túi nylon màu trắng, kích thước 50cm x 80cm;
+ 05 (năm) túi nylon màu trắng, kích thước 35cm x 55cm.
Vật chứng của vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách theo Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ - VKSCL ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách.
- Tại phiên tòa bị cáo Trương Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và nói lời sau cùng là xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Lách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn C thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Với động cơ tư lợi, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên vào đêm 19 rạng sáng ngày 20/4/2021 tại ấp TX, xã HKTB, huyện C, tỉnh Bến Tre, bị cáo Trương Văn C đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Vũ L và chị Trần Ngọc N 184 (một trăm tám mươi bốn) chậu cây mai vàng đã được ghép mai Đại Lộc và mai dảo Thủ Đức có giá trị 6.440.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) nên bản Cáo trạng số 08/CT-VKSCL, ngày 06-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách truy tố bị cáo Trương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo Trương Văn C là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện điều đó đã làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhân thân không tốt đã nhiều lần bị Tòa án xét xét xử về tội trộm cắp tài sản đã chấp hành xong được xóa án tích nhưng không biết cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Vũ L: 184 (một trăm tám mươi bốn) chậu cây mai vàng đã được ghép mai Đại Lộc và mai dảo Thủ Đức như mô tả nêu trên;
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Martin, màu sơn bạc,
Tịch thu tiêu hủy gồm:
+ Một thanh sắt nằm ngang hình chữ nhật kích thước 04cm x 02cm, dài 83cm cột trên yên sau xe;
+ 02 (hai) cái giỏ đan bằng nhựa màu vàng xanh có cùng kích thước 30cm x 70cm x 40cm (thường gọi giỏ bẹ);
+ 01 (một) cái kéo mũi nhọn dài 23,5cm, cán kéo được bọc nhựa màu đen;
+ 01 (một) cái bao bằng nhựa màu xanh, sọc màu đỏ, kích thước 60cm x 100cm;
+ 01 (một) cái bao bằng nhựa màu trắng, kích thước 60cm x 100cm, trên bao có chữ “ĐẶC SẢN - TS5 ĐẸP - GIÁ KHANG”;
+ 08 (tám) túi nylon màu trắng, kích thước 50cm x 80cm;
+ 05 (năm) túi nylon màu trắng, kích thước 35cm x 55cm.
Vật chứng của vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách theo Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ - VKSCL ngày 06/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án bị cáo Trương Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ khi nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND huyện Chợ Lách; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Công an huyện Chợ Lách; - Chi cục THADS huyện Chợ Lách; - TAND tỉnh Bến Tre; - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Thị Thúy Bắc – Nguyễn Văn Hơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Huỳnh Thị Phê THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Phê |