- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Xuân Mạnh - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HS - ST Ngày: 07/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quốc Kỳ
Bà Trần Thị Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLST - HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Xuân M - Sinh ngày 26 tháng 3 năm 1992
Tại: huyện Đ, tỉnh T;
Nơi cư trú: xóm 13, xã Phú X, huyện Đ, tỉnh T;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Sán Chỉ;
Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
Con ông: Đỗ Văn L; Sinh năm: 1962 (đã chết)
Con bà: Âu Thị Tr, sinh năm 1964
Vợ, con: Chưa có
Tiền án: Không
Tiền sự: Có 01 tiền sự Ngày 21/01/2019 bị Công an Quận Long Biên, TP. Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với mức phạt tiền là 1.500.000đ (Quyết định số 070667) bị cáo chưa chấp hành.
Nhân thân: Ngày 27/12/2013 bị Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 121/2013/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015).
Ngày 14/9/2018 bị Toà án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng (Chấp hành xong ngày 23/8/2020)
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2022 đến nay; (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn Th - sinh năm 1981
Trú tại thôn V, xã T, huyện C, TP. H
(Vắng mặt có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Xuân M là đối tượng nghiện chất ma tuý, vào khoảng 12 giờ ngày 13/10/2022, M mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S 110, Biển kiểm soát 29L9
- 5825 của anh Nguyễn Văn Th, Trú tại thôn Việt An, xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội để đi ra khu vực chân dốc Cun thuộc phường Th, TP. H tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến gần quán nước, M gặp một người đàn ông cao khoảng 1m60, da ngăm đen (không rõ tên tuổi, địa chỉ), M hỏi mua ma túy thì người đàn ông bảo “Không có, nếu muốn mua thì lúc 17 giờ gặp nhau tại cầu Bảm thuộc xã Tây Phong, huyện Cao Phong”. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M lại mượn xe của anh Thành đi vào cầu Bảm như đã hẹn, đến nơi M đứng đợi khoảng 5 phút thì người đàn ông đi đến, M đưa cho người đàn ông 200.000đ, người này đưa lại cho M một gói nilon màu xanh, bên trong có ma túy. Khi M đang cầm ở tay trái thì bị Tổ công tác Công an huyện Cao Phong và Công an xã Tây Phong kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có 01 (một) gói nilon màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng và màu hồng (nghi là ma túy) 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S 110, BKS 29L9 - 5825, màu xanh.
Ngày 13/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Cao Phong đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 35/QĐ-CSĐT để tiến hành giám định khối lượng và loại chất ma túy đối với tang vật thu giữ của Đỗ Xuân M.
Tại Bản kết luận giám định số: 292/KL- KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi “Một (01) gói nilong màu xanh bên trong có 01 (một) gói nilong màu trắng bên trong chứa chứa chất bột dạng cục màu trắng và màu hồng” gửi giám định có khối lượng 0,19g (không phẩy mười chín gam), là ma túy, loại Heroin (Heroine) và Methamphetamine.
Heroin (Heroine) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Methamphetamine nằm trong danh mục IIB, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 04/CT -VKSCP ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Đỗ Xuân M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân M mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 ( Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,15 gam mẫu chất ma tuý, loại Heroin và Methamphetamine. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện VKS, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS huyện Cao Phong không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Xuân M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị Đỗ Xuân M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người chứng kiến, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy nên ngày 13/10/2022 bị cáo Đỗ Xuân M đã có hành vi tàng trữ 0,19 gam ma tuý loại Heroine và Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của M đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, hành vi đó là nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội. Bị cáo phải biết rằng ma tuý là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Nên cần xử cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục là cần thiết.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 27/12/2013 bị Toà án nhân dân Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; ngày 14/9/2018 bị Toà án nhân dân Quận Long Biên, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng; bị cáo có một tiền sự ngày 21/01/2019 bị Công an Quận Long Biên, TP. Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản với mức phạt tiền là 1.500.000đ đến nay chưa thi hành. Đây thể hiện sự không chịu tu dưỡng bản thân và xem thường pháp luật, nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, số lượng chất ma túy tàng trữ không lớn và không nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy (vật chứng còn lại sau giám định) thu được của Đỗ Xuân M là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác định được người này, nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; Bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Văn Thành là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô, khi M hỏi mượn xe đi mua ma túy anh Thành không biết mục đích mượn xe của M nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện Cao Phong đã trả chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda Wave S 110, biển kiểm soát: 29L9 - 5825 cho anh Nguyễn Văn Thành là có căn cứ đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Đỗ Xuân M 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2022.
3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Đỗ Xuân M .
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,15 gam mẫu chất ma túy, loại Heroin (Heroine) và Methamphetamine.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 08/BB-GNVC ngày 16/01/2023 giữa Công an huyện Cao Phong với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Phong).
5. Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Xuân M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 332, 333 BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - Phòng 7 - VKSND tỉnh Hoà Bình; - VKSND huyện Cao Phong; - Công an huyện Cao Phong; - Đội THAHS và HTTP CA huyện CP; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Cao Phong; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ vụ án. có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà 6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 332, 333 BLTTHS bị cáo, người Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |