- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị V và Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị V ly hôn anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29/3/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và ông Nguyễn Văn Bạn.
- Thư ký phiên toà: Bà Mạc Thị Thủy- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 238/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 11 năm 2022, về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 07 ngày 17/3/2023, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị V, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Thôn G, xã M, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: KDC TT, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, Biên bản ghi lời khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị V trình bày: Chị Hoàng Thị V và anh Trần Văn T, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã M, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ngày 24/12/2014, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị V về nhà anh T ở TT- C- Chí Linh sống đƣợc khoảng 3 tháng rồi vợ chồng chuyển lên quê chị V thuê nhà sống chung tại G- M- Văn Yên- Yên Bái. Đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T và gia đình bên nội thì muốn vợ chồng chuyển công việc về sinh sống tại Chí Linh dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, ngoài ra anh T còn nghi ngờ vô cớ việc chị có ngƣời đàn ông khác. Năm 2021 anh T đƣa cháu Trần Hoàng A về Chí Linh sống ly thân. Tháng 10/2022 anh T có đến chỗ ở của chị đánh đập chị, đập phá đồ đạc, quần áo. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị xin đƣợc ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Hoàng A- sinh ngày 28/01/2016, Trần Hoàng Linh S- sinh ngày 30/4/2019. Hiện con cháu Linh S đang ở với chị V, còn cháu Hoàng A đang ở với anh T cùng gia đình bên nội. Khi ly hôn nguyện vọng chị V xin đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Linh S, giao cho anh T nuôi dƣỡng cháu Hoàng A. Hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con chung cho nhau và đƣợc quyền thăm nom con chung.
Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh T, không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị V có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử và khi xét xử chị xin đƣợc vắng mặt.
Bị đơn anh Trần Văn T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc nên Tòa án đã tống đạt cho ngƣời thân thích của anh T là ông Trần Văn K- bố đẻ anh T nhận thay các văn bản tố tụng theo quy định. Qua điện thoại có hình ảnh cuộc nói chuyện của anh T thông qua máy điện thoại của ông K có sự chứng kiến của Tòa án và Trƣởng khu dân cƣ TT, phƣờng C, anh T trình bày: xác định mâu thuẫn của vợ chồng, đồng ý ly hôn; đồng ý nuôi dƣỡng cháu Hoàng A và giao cho chị V nuôi cháu Linh S, hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con cho nhau; không yêu cầu giải quyết quan hệ tài sản, công sức, vay nợ và xin vắng mặt tại các buổi hòa giải, xét xử vụ án.
Theo Công văn số 2268/QLXNC-P5 ngày 17/02/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ Công an: Xác định không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của anh Trần Văn T.
Chính quyền địa phƣơng khu dân cƣ TT, phƣờng C đều xác định: Chị Hoàng Thị V và anh Trần Văn T kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND xã ở Yên Bái, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống sau đó anh chị có về nhà anh T sống chung khoảng 2-3 tháng rồi lại chuyển lên sinh sống tại Yên Bái. Việc mâu thuẫn vợ chồng nhƣ thế nào địa phƣơng không nắm rõ. Đến năm 2021 thì thấy anh T đƣa con chung là cháu Hoàng A về sống với ông bà nội tại TT, còn anh T đi làm công nhân ở Bắc Ninh thỉnh thoảng mới về nhà.
Tại đơn trình bày của cháu Trần Hoàng A thể hiện nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì nguyện vọng muốn đƣợc tiếp tục ở với anh Trần Văn T và gia đình bên nội.
Ngƣời làm chứng ông Trần Văn K (bố đẻ anh T, bố chồng chị V) trình bày: Chị Hoàng Thị V và anh Trần Văn T kết hôn và tổ chức đăng ký tại UBND xã ở Yên Bái, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống sau đó anh chị có về nhà ông bà sống chung khoảng 2-3 tháng rồi lại chuyển lên Yên Bái thuê nhà sống. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là khi chị V học 4 năm đại học Y Hải Phòng anh T chu cấp, nuôi dƣỡng, đến khi học xong thì chị V lại chuyển về Yên Bái công tác, sinh sống, khi anh T chuyển lên Yên Bái sống cùng trong khi chƣa xin đƣợc việc làm thì chị V coi thƣờng nói anh T ăn bám bởi vậy vợ chồng mâu thuẫn. Cuối năm 2021 anh T đƣa cháu Hoàng A về lại Chí Linh sống với gia đình ông còn chị V và cháu Linh S vẫn sống ở Yên Bái. Cuối năm 2022 mâu thuẫn căng thẳng, anh T đã lên Yên Bái đập phá đồ đạc tại chỗ ở của chị V. Hai bên gia đình cũng đã khuyên giải động viên nhƣng không có kết quả. Nay chị V xin ly hôn anh T, ông thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đã ly thân nhau lâu nên cũng đề nghị Tòa án sớm giải quyết cho anh chị ly hôn để ổn định cuộc sống và tìm hạnh phúc mới. Về con chung: anh T và chị V có là Trần Hoàng A- sinh ngày 28/01/2016, Trần Hoàng Linh S- sinh ngày 30/4/2019. Hiện cháu Linh S đang ở với chị V, còn cháu Hoàng A đang ở với anh T và gia đình ông từ năm 2021 đến nay. Điều kiện ăn ở sinh hoạt của gia đình ông, của anh T, của cháu Hoàng A đảm bảo. Gia đình ông cam kết hỗ trợ chỗ ăn ở sinh hoạt để anh T nuôi dƣỡng cháu Hoàng A.
Ngƣời làm chứng bà Hoàng Thị T1 (là mẹ đẻ chị V, mẹ vợ anh T) có đơn trình bày: Năm 2014 khi chị V và anh T kết hôn hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới. Sau ngày cƣới anh chị thuê nhà chung sống với nhau ở Yên Bái, quá trình chung sống đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyện nhân là do anh T ghen tuông, thƣờng xuyên đánh cãi chửi nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nhƣng không có kết quả. Năm 2021 anh T đƣa cháu Hoàng A về Chí Linh sống ly thân đến nay. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho chị V sớm ly hôn với anh T. Về con chung hiện cháu Linh S đang sống cùng chị V tại nhà thuê gần với gia đình bà, bà vẫn thƣờng xuyên đƣa đón, chăm sóc cháu, còn cháu Hoàng A đang ở với anh T và gia đình bên nội. Điều kiện ăn ở sinh hoạt của gia đình bà đảm bảo cho chị V và con ăn ở sinh hoạt. Nếu chị V đƣợc giao nuôi con bà cam kết hỗ trợ để chị V cùng các con ăn ở, sinh hoạt, học tập tốt nhất có thể.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn chị Hoàng Thị V có đơn xin xử vắng mặt.
Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Hoàng Thị V ly hôn anh Trần Văn T. Giao con chung Trần Hoàng Linh S- sinh ngày 30/4/2019 cho chị Hoàng Thị V; Giao con chung Trần Hoàng A- sinh ngày 28/01/2016 cho anh Trần Văn T tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con chung cho nhau và đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở. Về tài sản, vay nợ, công sức: Không giải quyết. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị V chịu 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Bị đơn anh Trần Văn T đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại khu dân cƣ TT, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nên vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 35; a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.
Bị đơn anh Trần Văn T vắng mặt tại nơi cƣ trú, đi làm ăn xa không rõ địa chỉ; ngƣời thân thích đã nhận thay các văn bản tố tụng nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung. Mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn chị Hoàng Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị V và anh Trần Văn T, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã M, huyện V, tỉnh Yên Bái ngày 24/12/2014, đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.
Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị V và anh T thấy rằng: Vợ chồng kết hôn năm 2014. Do điều kiện công việc và quan điểm sống khác biệt đã dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Tuy đã đƣợc hai bên gia đình động viên hòa giải, bản thân chị V và anh T đã cố gắng thu xếp công việc và cuộc sống gia đình nhƣng không tìm đƣợc tiếng nói chung, đến năm 2021 anh T đã đƣa cháu Hoàng A về Chí Linh sống ly thân. Quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị V xin ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Xác định các cháu Trần Hoàng A- sinh ngày 28/01/2016, Trần Hoàng Linh S- sinh ngày 30/4/2019 là con chung của chị Hoàng Thị V và anh Trần Văn T, hiện cháu Linh S đang sống ổn định cùng chị V, cháu Hoàng A đang sống ổn định với anh T và gia đình bên nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị V đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Linh S, nguyện vọng của anh T muốn nuôi dƣỡng cháu Hoàng A, bản thân cháu Hoàng A có nguyện vọng muốn ở cùng anh T. Nguyện vọng của chị V, anh T và cháu Hoàng A đều chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế cần đƣợc chấp nhận theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Nguyên đơn chị Hoàng Thị V không yêu cầu giải quyết; bị đơn anh Trần Văn T không có quan điểm nên không phải giải quyết.
Về án phí: Chị Hoàng Thị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị V ly hôn anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Hoàng Linh S- sinh ngày 30/4/2019 cho chị Hoàng Thị V; Giao con chung Trần Hoàng A- sinh ngày 28/01/2016 cho anh Trần Văn T tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Hai bên không phải cấp dƣỡng nuôi con chung cho nhau và đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở.
3. Về tài sản, vay nợ, công sức: Không giải quyết.
4. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0003177 ngày 17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị V đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND xã Mỏ Vàng (q/l hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Bách |