vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Lệ T đối với ông Huỳnh Tấn P.

Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Lệ T ly hôn với ông Huỳnh Tấn P. Về nuôi con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Lệ Thảo "Ly hôn" Huỳnh Tấn Phước"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Lệ T đối với ông Huỳnh Tấn P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH LONG AN
Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-02-2023

V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T - TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Kim Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Sở

2/ Ông Lê Văn Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà, Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 10/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 277/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Lệ T, sinh năm 1977;

2/ Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1981;

Địa chỉ: số 26/10 đường C, phường 5, thành phố T, tỉnh Long An.

(Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông P vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ T trình bày:

Về hôn nhân: bà và ông P chung sống với nhau vào năm 2005, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn. Do thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn kéo dài, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay tình trạng hôn nhân giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P.

Về con chung: vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 14/9/2005 và Huỳnh Thiên P1, sinh ngày 12/5/2009. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

* Bị đơn ông Huỳnh Tấn P vắng mặt tại phiên tòa, không có bản tự khai nội dung sự việc. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông P biết Tòa án có thụ lý vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà T theo quy định pháp luật, nhưng ông P không có ý kiến bằng văn bản gửi đến Tòa án về việc bà T xin ly hôn.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự cho rằng:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung:

Căn cứ Trích lục kết hôn do bà Huỳnh Thị Lệ T cung cấp xác định bà T và ông Huỳnh Tấn P xác lập quan hệ hôn nhân năm 2005. Thời gian gần đây bà T và ông P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt cho thấy ông không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Nhận thấy hôn nhân giữa bà T và ông P lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 02 con chung là Huỳnh Bảo N, sinh ngày 14/9/2005 và Huỳnh Thiên P1, sinh ngày 12/5/2009 hiện đang sống chung với bà T. Xét thấy nguyện vọng của các cháu cũng muốn sống chung với mẹ. Do đó để ổn định sự phát triển về tinh thần và thể chất cho các con chung, cần giao bà T tiếp tục nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng do bà T không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện bà Huỳnh Thị Lệ T. Bà Huỳnh Thị Lệ T phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền: Bà Huỳnh Thị Lệ T có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Tấn P. Căn cứ vào Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án nhân dân thành phố T, Long An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

1.2. Về xét xử vắng mặt đương sự:

Đối với nguyên đơn: Ngày 23/12/2022 bà Huỳnh Thị Lệ T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn: Tòa án nhân dân thành phố T, Long An đã tiến hành đầy đủ các thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định cho ông Huỳnh Tấn P nhưng ông P vẫn vắng mặt.

Do đó, việc Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp với các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Huỳnh Thị Lệ T và ông Huỳnh Tấn P có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 02/8/2005 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ khi có tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông P. Trong thời gian thu thập chứng cứ, Tòa án có tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của bà T và ông P tại nơi đăng ký kết hôn và cũng tại nơi cư trú là Ủy ban nhân dân phường 5, thành phố T, tỉnh Long An nhưng Ủy ban nhân dân phường 5 không biết được nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông P. Về phía ông P, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay, ông P cố tình không đến tham gia tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông P đến Tòa án tham gia hòa giải theo quy định Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông P vẫn không đến Tòa án. Như vậy phía ông P không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không còn thiết tha về quan hệ tình cảm với bà T nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ tình cảm giữa bà T và ông P không còn, tình trạng vợ chồng giữa bà T và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xét nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Trong quá trình chung sống, bà T và ông P có 02 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 14/9/2005 và Huỳnh Thiên P1, sinh ngày 12/5/2009. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông P không tham gia phiên tòa để xác định nguyện vọng về việc nuôi con của mình. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và cũng phù hợp với ý kiến của cháu Bảo N và Thiên P1. Vì vậy giao cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: ghi nhận sự tự nguyện của bà T là tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng.

Bà T và ông P có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: bà T xác định tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Huỳnh Thị Lệ T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 267, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình.

Áp dụng Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Huỳnh Thị Lệ T đối với ông Huỳnh Tấn P.

1. Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Thị Lệ T ly hôn với ông Huỳnh Tấn P.

2. Về nuôi con chung:

Giao con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 14/9/2005 và Huỳnh Thiên P1, sinh ngày 12/5/2009 cho bà Huỳnh Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Tấn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Huỳnh Thị Lệ T không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung: tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có. Vì vậy nên bản án không đề cập.

4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Lệ T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001819 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Long An. Bà T đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ