- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hạnh H và Gerard Douglas S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh H về “Ly hôn” với ông Gerard S Douglas.
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23-3-2023 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Văn Loan
2.Bà Ngô Mỵ Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh K, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hạnh H, địa chỉ: 86 đường Phòng Không, phường P, thành phố N, tỉnh K. Vắng mặt.
Bị đơn: Ông Gerard S Douglas (Gerard Douglas S); địa chỉ: 437 Linden Wood LN W Hewitt TX 76643, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh H trình bày: Năm 2016, bà Trần Thị Hạnh H kết hôn với ông Gerard S Douglas, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 223, tại UBND thành phố N, tỉnh K ngày 22/12/2016.
Sau một thời gian chung sống, giữa vợ chồng nhận thấy có nhiều sự bất đồng trong tính cách, quan điểm, lối sống, văn hoá, ông bà không thể tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, ông bà không thể chia sẻ với nhau những cảm xúc trong cuộc sống. Bà và ông Gerard S Douglas đã sống ly thân với nhau một thời gian, ông Gerard S Douglas đã quay trở lại Mỹ để sinh sống và làm việc. Vợ chồng bà không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân như hiện nay vì cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trần Thị Hạnh H xin được ly hôn với ông Gerard S Douglas.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà H đề nghị được xét xử vắng mặt.
* Bị đơn Gerard S Douglas (Gerard Douglas S) đã được Tòa án tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp để tống đạt các văn bản tố tụng và thu thập lời khai của bị đơn theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định và nhận được văn bản số 3423/CH-BTP ngày 28/11/2022 của Bộ Tư pháp thông báo về việc đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ để thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp, nhưng Cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ chưa có kết quả trả lời.
Ngoài ra, Tòa án cũng đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Gerard S Douglas (Gerard Douglas S) qua đường bưu điện; niêm yết các văn bản tố tụng tại trụ sở và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa và niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Gerard S Douglas tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ (văn bản trả lời số 406/BC-UTTP ngày 26/12/2022 của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ), nhưng đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được phản hồi của ông Gerard S Douglas (Gerard Douglas S).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K phát biểu:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh H được ly hôn với ông Gerard S Douglas; về án phí nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn:
Nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh H đã có bản tự khai và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Gerard S Douglas hiện đang sống ở Hoa Kỳ. Tòa án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng thông báo về thời gian tham gia tố tụng tại Tòa án thông qua địa chỉ do nguyên đơn cung cấp và thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, tuy nhiên đều không có kết quả. Căn cứ khoản 3 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tiến hành niêm yết thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh K, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K và Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Hạnh H tự nguyện kết hôn với ông Gerard S Douglas và được Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh K cấp giấy chứng nhận kết hôn số 223 ngày 22 tháng 12 năm 2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng về quan điểm, tính cách, lối sống, văn hóa nên vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung, cũng như không thể chia sẻ với nhau những cảm xúc trong cuộc sống. Theo bà hạnh trình bày bà và ông Gerard S Douglas đã sống ly thân với nhau, ông Gerard S Douglas đã quay trở lại Mỹ để sinh sống và làm việc. Bà H cho rằng cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trần Thị Hạnh H xin được ly hôn với ông Gerard S Douglas.
Xét thấy: Mặc dù, Tòa án đã thực hiện việc tống đặt các văn bản tố tụng cho ông Gerard S Douglas qua con đường ủy thác tư pháp và qua đường bưu điện,nhưng ông Gerard S Douglas vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Điều đó cho thấy ông Gerard S Douglas không quan tâm đến quan hệ hôn nhân này. Việc bà H cho rằng không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với ông Gerard S Douglas vì cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được là có cơ sở. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Hạnh H về ly hôn với ông Gerard S Douglas.
Về con chung: Bà Trần Thị Hạnh H xác định không có con chung, nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Hạnh H trình bày không có, nên tách phần tài sản ra để giải quyết trong một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí, chi phí tố tụng: Bà Trần Thị Hạnh H là nguyên đơn, phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí tố tụng về việc ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 3 điều 35, điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm b khoản 5 Điều 477; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hạnh H về “Ly hôn” với ông Gerard S Douglas.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Hạnh H được ly hôn với ông Gerard S Douglas.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Tách phần tài sản ra để giải quyết trong một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí, chi phí tố tụng:
4.1. Về án phí: Về án phí: Bà Trần Thị Hạnh H phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009763 ngày 25/6/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh K. Vậy bà H đã nộp đủ tiền án phí sơ
4.2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị Hạnh H phải chịu chi phí dịch thuật và ủy thác theo đường bưu chính. Bà Trần Thị Hạnh H đã nộp 2.000.000đ (Hai triệu đồng), sau khi bà H thực hiện các chi phí nói trên, số tiền còn lại bà Trần Thị Hạnh H liên hệ với Thủ quỹ của Tòa án nhân dân tỉnh K để nhận lại.
5. Quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Hạnh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Ông Gerard S Douglas ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn một tháng kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - UBND TP. N; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hoà; - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa; - Nguyên đơn, bị đơn; - Lưu HS, AV, VP. | Lê Thúy Phượng |