vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 14/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H.

Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với và ông Chen Po J. Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 10/7/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Nguyễn Thị Thu H và ông Chen Po J"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14/4/2023
V/v tranh chấp “hôn nhân
và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;

2. Bà Lê Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.

Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996, nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Chen Po J, sinh năm 1994, nơi cư trú: số 193, lộ Bảo An Nhất, khóm 010, phường B, khu Tây, thành phố G, Đài Loan, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thu H đăng ký kết hôn với ông Chen Po J và được Uỷ ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 10/7/2019. Sau khi kết hôn, ông Chen Po J làm thủ thục bảo lãnh bà H sang Đài Loan sinh sống, nhưng trong thời gian chờ đợi sang Đài Loan thì tình hình dịch Covid-19 kéo dài nên ông Chen Po J không thể sang Việt Nam. Bà H và ông Chen Po J do xa cách nên nghi ngờ lẫn nhau, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt. Nay bà H làm đơn khởi kiện ly hôn với ông Chen Po J.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn đồng ý ly hôn ngày 17/11/2022, bị đơn ông Chen Po J trình bày điều kiện, thời gian đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn như trình bày của nguyên đơn bà H. Ông Chen Po J đồng ý ly hôn với bà H. Vợ chồng không có con chung và cũng không có tài sản chung.

Ông Chen Po J có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 17/11/2022 (đã được hợp pháp hóa lãnh sự).

Ngày 09/3/2023, bà H có đơn yêu cầu không hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Chen Po J, sinh năm 1994, có nơi cư trú Đài Loan, nguyên đơn có nơi cư trú tại ấp Tây Bình B, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Thu H và ông ông Chen Po J có quan hệ hôn nhân, đăng ký tại Ủy ban nhân huyện T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết số 74 ngày 10/7/2019 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện ly hôn và bị đơn có văn bản đồng ý. Nguyên nhân do xa cách nên vợ chồng nghi ngờ lẫn nhau, phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn và không thể tiếp tục sống chung.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung đã không còn trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 10/7/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét đến.

Về chi phí tố tụng: Không có.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H.

1. Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với và ông Chen Po J.

Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 10/7/2019 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000161 ngày 06/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H là 15 ngày kể ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Thời hạn kháng cáo của ông Chen Po J là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ