vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Lê Quang H1 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con ".

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H1. Về con chung: Giao con chung Lê Huỳnh Anh T - sinh ngày 08/7/2011 cho bà Huỳnh Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Lê Quang H1 không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Thu Hiền - Lê Quang Hải"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Lê Quang H1 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con ".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11-4-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Phạm Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 303/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/2/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 303/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/20223 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Số nhà A đường B, phường C, quận D, thành phố Đà Nẵng.(Có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê Quang H1, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số nhà A1 đường B1, phường C1, quận D1, thành phố Đà Nẵng.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Huỳnh Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H kết hôn với ông Lê Quang H1 vào năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tính và quan điểm sống của ông bà không hợp nhau, vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vả, to tiếng. Nay bà H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác định bà và Lê Quang H1 có 01 (một) con chung là Lê Huỳnh Anh T, sinh ngày 08/7/2011.

Ly hôn, bà H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác định không có.

* Ông Lê Quang H1 có lời khai trong hồ sơ vụ án:

- Về con chung: Ông H1 xác định có 01 con chung là Lê Huỳnh Anh T – sinh ngày 08/7/2011. Ông H1 chịu trách nhiệm nuôi con.

- Về tài sản chung:

+ Một chiếc xe SH;

+ Tiệm trang sức tại chợ Bắc Mỹ An lô DI 129.

- Về nợ chung: Ông Lê Quang H1 xác định không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm: Việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn vẫn vắng mặt lần hai đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H1. Giao con chung Lê Huỳnh Anh T, sinh ngày 08/7/2011 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ông H1 không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Án phí HNGĐ-ST bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn là ông Lê Quang H1 có địa chỉ cư trú tại số nhà A1 đường B1, phường C1, quận D1, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn ông Lê Quang H1 nhưng ông H1 vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

*Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Lê Quang H1 đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhan dân phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân tự nguyện. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn với ông Lê Quang H1. Bà H cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H1 không lo làm ăn, mỗi khi cãi nhau ông H1 hay sỉ nhục bà, vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ nên cả hai thường xuyên cãi vả dẫn đến đến cuộc sống không hạnh phúc. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu của đương sự thì thấy: Mối quan hệ hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cùng nhau có trách nhiệm, chăm sóc cũng như tạo mọi điều kiện cho nhau trong cuộc sống. Trong quá trình chung sống, bà H và ông H1 có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm cần thiết. Qua kết quả xác minh tại địa phương và thực tế thể hiện bà H với ông H1 không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng ông bà trở về đoàn tụ, nhưng ông đều vắng mặt, điều này chứng tỏ ông H1 không có thiện chí đoàn tụ gia đình.

Quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử động viên bà H rút đơn về đoàn tụ gia đình lo cho con cái nhưng bà cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng kéo dài và vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Bà H không đồng ý về chung sống cùng ông H1 và giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với ông H1. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà H và ông H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho bà H được ly hôn ông H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Bà Huỳnh Thị Thu H xác định bà và ông Lê Quang H1 có 01 (một) con chung là: Lê Huỳnh Anh T – sinh ngày 08/7/2011. Bà H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 05/10/2022, ông H1 có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung.

Đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên thì thấy: Cha mẹ đều có mọi quyền và nghĩa vụ đối với chung theo quy định qui định. Vì vậy, việc xem xét giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét ở nhiều yếu tố đảm bảo quyền lợi, điều kiện tốt nhất để con chung được phát triển toàn diện. Cháu T là con gái, có nguyện vọng được ở với mẹ và bà H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết, ông H1 đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí về việc nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu Anh T cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung là có cơ sở.

Đối với tài sản chung, bà H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H1 có ý kiến trong hồ sơ về việc yêu cầu chia tài sản là 01 xe SH và Tiệm trang sức ở chợ Bắc Mỹ An nhưng trong quá trình tố tụng tại Tòa án ông H1 vắng mặt và không có đơn trình bày, yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án khác để giải quyết.

Về nợ chung: Bà H và ông H1 xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đồng nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Thu H đối với ông Lê Quang H1 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con ".

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Thu H được ly hôn với ông Lê Quang H1.

- Về con chung: Giao con chung Lê Huỳnh Anh T - sinh ngày 08/7/2011 cho bà Huỳnh Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Lê Quang H1 không cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp, các bên có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án khác.

- Về nợ chung: Bà Huỳnh Thị Thu H và ông Lê Quang H1 xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Huỳnh Thị Thu H phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0008523 ngày 01 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ