vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A. Cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Anh B và chị A có hai con chung, gồm: cháu Nguyễn Hoàng Ngọc D, sinh ngày 21/5/2008 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 13/6/2012. Giao cháu D và cháu C cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn và con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A. Cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn
và con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Kim Thanh và bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thùy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phong Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 434/2022/TLST - HNGĐ, ngày 04 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 30/12/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1980;

Cùng nơi cư trú: phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chị A và anh B đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong các lời khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn ngày 04/12/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tây Tựu (nay là phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hai năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh B chơi bời, không quan tâm đến vợ con. Chị đã cố gắng khuyên giải và đã nhiều lần nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhưng sau đó rút đơn ly hôn mong anh B có thể thay đổi để tu chí làm ăn, giúp đỡ vợ con nhưng không có kết quả. Đến nay, chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không thể đoàn tụ được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Chị và anh B có hai con chung, gồm: Cháu Nguyễn Hoàng Ngọc D, sinh ngày 21/5/2008 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 13/6/2012. Chị đề nghị được nuôi cả hai con, trong trường hợp không được nuôi hai con thì mỗi người nuôi 01 con. Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết gì khác.

Bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:

- Về hôn nhân: Anh nhất trí về điều kiện, thời gian kết hôn và quá trình chung sống như chị A trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh xảy ra mâu thuẫn là do anh chơi bời. Chị A cũng đã nhiều lần nộp đơn ly hôn tại Tòa án sau đó rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, do thời gian qua vợ chồng anh sống ly thân nên dẫn đến nhiều hiểu lầm, xô xát không đáng có, khiến anh có đánh chị A. Nhưng anh thực tâm vẫn yêu tA vợ, cố gắng thay đổi, làm ăn giúp đỡ vợ con và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con chung nên anh không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Anh và chị A có hai con chung như chị A trình bày là đúng. Anh không muốn ly hôn nên anh không có ý kiến về con chung và không muốn hai con phải chia tách.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết gì khác.

Tại phiên toà: Chị A giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và được nuôi hai con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Anh B xin đoàn tụ và không phản đối ý kiến đề nghị nuôi con của chị A.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với người tham gia tố tụng, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A, cho chị A được ly hôn anh B.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Ngọc D, sinh ngày 21/5/2008 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 13/6/2012. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai con chung của anh chị cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Văn B đăng ký kết hôn ngày 04/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Ngày 03/10/2022 chị A khởi kiện xin ly hôn anh B. Anh B có nơi cư trú tại phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị A và anh B có xảy ra mâu thuẫn xất phát từ việc anh B mải chơi, không quan tâm gia đình. Chị A đã nhiều lần nộp đơn khởi kiện về vệc ly hôn tại Tòa án và đã rút đơn để anh chị cùng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Anh B thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ lỗi của anh và vẫn còn yêu tA vợ mong muốn đoàn tụ nhưng không có biện pháp để cải thiện mâu thuẫn vợ chồng. Như vậy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A, anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh B.

Về con chung: Anh B và chị A có hai con chung, gồm: cháu Nguyễn Hoàng Ngọc D, sinh ngày 21/5/2008 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 13/6/2012. Anh B không có ý kiến về con chung. Chị A có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con của chị A là chính đáng. Hiện nay các cháu đều đang do chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Xuất phát từ quyền lợi và nguyện vọng của các con cũng như điều kiện nuôi con của anh, chị, đồng thời để đảm bảo ổn định cho cuộc sống của các con, cần tiếp tục giao cả hai con chung của anh chị cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Do chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh B.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận. Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra Hội đồng xét xử không giải quyết gì khác.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147; Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị A. Cho chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Anh B và chị A có hai con chung, gồm: cháu Nguyễn Hoàng Ngọc D, sinh ngày 21/5/2008 và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 13/6/2012. Giao cháu D và cháu C cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh B đến khi chị A có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên tự thỏa thuận. Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị A đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng tại biên lai số AA/2020/0043460 ngày 03/11/2022, nay được chuyển thành án phí. Xác nhận chị A đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị A và anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ