vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Ch.

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Ch được ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Lâm Tâm N (nữ), sinh ngày 29/01/2007 và Nguyễn Lâm Như X (Nữ), sinh ngày 18/5/2009 cho bà Lâm Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ch không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ch xin ly hôn với ông D, yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-6-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Hảo

Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 40/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Ch, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. (Có mặt).

-Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị Ch trình bày:

Bà Ch và ông D tiến đến hôn nhân thông qua người mai mối, không có thời gian tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào tháng 02 năm 2006. Sau đó đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An ngày 22/5/2006. Vợ chồng làm ăn, sinh sống tại Ấp A, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An từ năm 2006 cho đến nay. Hai vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Lâm Tâm N (nữ), sinh ngày 29/01/2007 và Nguyễn Lâm Như X (Nữ), sinh ngày 18/5/2009 hiện cả hai con đang sống cùng bà Ch.

Trong quá trình chung sống, bà Ch cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nhưng bà vẫn cố gắng để nuôi con. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng do ông D thường xuyên uống rượu, không có trách nhiệm với gia đình, hiện tại bà Ch đã sống ly thân với ông D từ tháng 3 năm 2023 đến nay.

Nay bà Ch không còn tình cảm với ông D nữa nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn D; Về nuôi con chung: Bà Ch yêu cầu được nuôi hai con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên Tòa, không thể hiện ý kiến trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án.

Kết quả xác minh của Tòa án:

Chính quyền địa phương nơi cư trú của ông D và bà Ch cung cấp thông tin: Bà Ch và ông D có sinh sống tại địa phương, nghề nghiệp làm thuê, kinh tế gia đình cũng khó khăn, không có đất sản xuất. Vợ chồng có 02 con chung. Về mâu thuẫn vợ chồng như thế nào thì địa phương không nắm được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại các phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Bà Lâm Thị Ch và ông Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn ngày 22/5/2006 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải, tạo điều kiện cho bà Ch và ông D hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên bà Ch vẫn kiên quyết ly hôn; phía ông D không đến Tòa án mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Ch và ông D đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 19 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Thị Ch.

Về con chung: Bà Ch có yêu cầu tiếp tục nuôi con và hai con chung có nguyện vọng sống chung với mẹ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Ch. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Ch không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Ch trình bày có tài sản chung nhưng không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; Về nợ chung: Không có.

Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố Tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp A, xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Ông Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Ch và ông Nguyễn Văn D xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An vào ngày 22/5/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp, bà Ch yêu cầu giải quyết ly hôn sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Lâm Thị Ch cho rằng cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng từ khi mới về chung sống cho đến nay. Nguyên nhân do ông D thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên uống rượu say không chăm lo cho vợ con. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau nữa nên khả năng hàn gắn không còn. Do đó bà Ch yêu cầu được giải quyết cho bà được ly hôn với ông D, chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Ông D vắng mặt nhiều lần mặc dù đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng, không thể hiện ý kiến trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng như hai lần mở phiên Tòa, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà Ch.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà bà Ch và ông D đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, căn cứ quy định tại các điều 19, 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lâm Thị Ch.

Về con chung: Bà Ch và ông D có hai con chung tên Nguyễn Lâm Tâm N (nữ), sinh ngày 29/01/2007 và Nguyễn Lâm Như X (Nữ), sinh ngày 18/5/2009 hiện cả hai con đang sống cùng bà Ch và có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Bà Ch yêu cầu được nuôi hai con và ông D cũng không có tranh chấp. Xét thấy việc giao con chung cho bà Ch nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của bà Ch. Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Ch không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét .

Về tài sản chung: Bà Ch không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Ch trình bày không có nên không xem xét.

Về án phí: Bà Lâm Thị Ch phải chịu án phí Hôn Nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị Ch.

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Ch được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Lâm Tâm N (nữ), sinh ngày 29/01/2007 và Nguyễn Lâm Như X (Nữ), sinh ngày 18/5/2009 cho bà Lâm Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ch không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2.Về án phí: Bà Lâm Thị Ch phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Ch đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0003925 ngày 31/3/2023 sang tiền án phí.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ