- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kiên - Hoàn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung K được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 5 năm 2023 V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ,TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Khương Đặng Khánh Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Sơn
Bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Trịnh Hoàng Miên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 195/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc "Ly hôn,tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;(có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc;(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện,những lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Trung K trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H ngày 31/10/2011 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và không bị ai lừa dối, ép buộc kết hôn. Sau khi kết hôn chị Hvề chung sống cùng gia đình anh ngay. Quá trình chung sống không được hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm về cuộc sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh xác định cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh phúc, mặc dù vợ chồng ở cùng nhà nhưng không nói chuyện với nhau, không có tiếng nói chung, sống ly thân, không quan tâm chăm sóc đến nhau từ năm năm 2017 cho đến nay. Khi sống ly thân hai bên gia đình có hòa giải nhưng không thành và vợ chồng không có biện pháp cải thiện tình cảm vợ chồng. Nay anh xác định đời sống chung vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Toàn A, sinh ngày 10/10/2012 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 26/10/2014. Hiện nay cả hai con đang ở anh chị K H. Ly hôn anh đề nghị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm kinh doanh online tại nhà với mức thu nhập bình quân khoảng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng đảm bảo điều kiện để nuôi dạy hai con được tốt nhất.
Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về án phí: Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án thực hiện việc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị H không đến Tòa án làm việc; không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ; phiên hòa giải. Chị H không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị giải quyết ly hôn của anh K. Tại phiên tòa hôm nay chị H vắng mặt mặc dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật. Kết quả xác minh tại địa phương và gia đình xác định chị H biết việc Tòa án đang tiến hành giải quyết vụ án ly hôn giữa chị và anh K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật như vắng mặt không có lý do từ khi Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử cho anh Nguyễn Trung K được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Về nuôi con: Đề nghị giao cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con là cháu A và cháu L. Hiện nay con đang ở cùng anh chị K H. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: không xem xét giải quyết.Về án phí: Anh K phải chịu nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng chị H không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Xét thấy bị đơn là chị Nguyễn Thị H vắng mặt tất cả các lần Tòa án thông báo, triệu tập là vi phạm nghĩa vụ của đương sự, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa chị H vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh K và chị H là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm chăm sóc nhau nên vợ chồng thường xảy ra cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài từ năm 2017 đến nay nhưng không có biện pháp nào để khắc phục. Xác minh UBND xã Đ thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và vợ chồng đã sống ly thân, không cải thiện được tình cảm. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị H mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, việc anh K xin ly hôn chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Hvắng mặt không đến Tòa án làm việc thể hiện chị H cố tình gây khó khăn cho anh K và không có mong muốn để vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh K được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Toàn A, sinh ngày 10/10/2012 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 26/10/2014. Hiện nay cả hai con đang ở cùng anh chị K H. Ly hôn anh K đề nghị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Mặc dù, cháu A và cháu L đều có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn xin được ở vởi mẹ tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, chị H được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm về việc nuôi con chung. Xét về điều kiện nuôi con của anh K thấy rằng hiện nay anh đang làm kinh doanh online tại nhà với mức thu nhập bình quân khoảng 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Để tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt và ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của con, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh K được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, chấp nhận sự tự nguyện của anh K về việc không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau này nếu chị H có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sẽ xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản và các nghĩa vụ dân sự: Anh K không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô là có căn cứ và phù hợp với với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Trung K được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
2. Về nuôi con: Anh K được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con là Nguyễn Toàn A, sinh ngày 10/10/2012 và Nguyễn Thảo L, sinh ngày 26/10/2014. Hiện nay cả hai con đang ở cùng vợ chồng anh chị. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Trung K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số: 0002656 ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Lô. Anh K đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Sông Lô; - Chi cục THADS huyện Sông Lô; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Khương Đặng Khánh Hằng |