vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T T M được ly hôn với anh T L T. Về con chung: Giao cháu T H N cho anh T L T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "10 M + T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Lò Văn Chiên, ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị TT M, sinh năm: 19xx.

Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

Bị đơn: Anh T L T, sinh năm: 19xx.

Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị T T M trình bày:

Chị M và chồng là anh T L T đăng ký kết hôn vào ngày 09/11/2015, có giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã B cấp, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, cãi vã nhau; Nguyên nhân là do cả hai không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị M và anh T ly thân nhau được 03 năm nay, thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai.

Đến nay chị M không còn tình cảm với anh T nữa, nên chị M đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho chị và anh Tả.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung, tên là T H N, sinh ngày 01/11/2015. Sau khi ly hôn chị M nhất chí cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị M không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo đúng quy định của pháp luật và triệu tập bị đơn, nhưng bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có yêu cầu gì.

Kết quả xác minh của Tòa án tại Ủy ban xã B, Công an xã B, xác minh đối với trưởng bản A và xác minh đối với bố đẻ của anh T xác định: Vợ chồng chị M và anh T chung sống với nhau từ năm 2015. Sau khi kết hôn với nhau thì vợ chồng chị M và anh T chung sống với nhau bình thường, không có mâu thuẫn gì, tuy nhiên sau khi sinh con được hơn 01 tuổi thì chị M tự ý bỏ về nhà bố mẹ và đi làm, không liên lạc gì với gia đình và con cái. Chị M và anh T đã không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Hiện tại anh T đang đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, anh T cũng không khai báo tạm vắng tại địa phương, anh T vẫn liên lạc về với gia đình, thỉnh thoảng vẫn về thăm gia đình và gửi tiền về cho bố mẹ nuôi con hàng tháng.

Tòa án cũng đã tiến hành lấy ý kiến của cháu T H N. Nguyện vọng của cháu N sau khi bố mẹ ly hôn là muốn được ở cùng bố.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt có lý do, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 54, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận đơn khởi kiện của chị T T M, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị T T M được ly hôn với anh T L T. Về con chung: giao cháu T H N cho anh T L T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T T M có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh T L T. Tại thời điểm chị M gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn thì chị M không xác định nơi ở của anh T ở đâu do anh T cố tình giấu địa chỉ, không cho ai biết địa chỉ cụ thể của anh ở đâu. Chị M chỉ xác định được nơi cư trú cuối cùng của anh T là ở bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, anh T cũng vẫn liên lạc thường xuyên với gia đình, thường xuyên về thăm gia đình và gửi tiền cho bố mẹ nuôi con hàng tháng. Do vậy đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố nên vụ án được xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do cả hai đương sự vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt cả hai đương sự theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh T có đăng ký kết hôn với nhau ngày 23/10/2015, có giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã B cấp, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp. Hai anh chị sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian đầu thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai anh chị không hợp tính tình, thường xuyên mâu thuẫn với nhau, bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị M và anh T đã ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay và không ai quan tâm đến ai. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa hai anh chị đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M, giải quyết cho chị T T M được ly hôn với anh T L T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị M và anh T có 01 con chung, tên là T H N, sinh ngày 01/11/2015. Hiện tại cháu đang ở cùng anh T và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị M cũng có nguyện vọng cho anh T được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị M không cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Ý kiến cháu N muốn được ở cùng bố, gia đình anh T cũng cam đoan sẽ cùng anh T nuôi dưỡng cháu, có đầy đủ điều kiện kinh tế để nuôi cháu. Vì vậy xét về điều kiện, hoàn cảnh, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản: Chị M và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị M được miễn án phí giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật do anh là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T T M được ly hôn với anh T L T.

Về con chung: Giao cháu T H N cho anh T L T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Chị T T M và anh T L T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị T T M được miễn án phí giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ