- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Xuân D ly hôn với ông Mai Văn H1"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày 13/3/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Nguyên Kim.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Hoàng Văn Tâm;
- Ông: Thông Minh Tấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhi – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 433/2022/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Xuân D, năm sinh 1996. Địa chỉ: Khu phố 3, phường X, thành phố Y, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).
Bị đơn: Ông Mai Văn H1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn R, xã G, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt – Có đơn ngày 23/02/2023 xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Xuân D trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa trình bày:
Bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 yêu nhau sống chung từ năm 2016 đến năm 2018 hai người tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05 tháng 01 năm 2018 tại UBND xã G, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, bà D mang thai con chung ba lần đều không sinh con được; sau đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, thời gian từ đầu năm 2022 sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn được; bà D và ông H1 đã ly thân từ tháng 4 năm 2022, bà D về nhà mẹ đẻ tại Khu phố 3, phường X, thành phố Y, tỉnh Bình Thuận sinh sống đến nay không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không thể tồn tại, kéo dài hôn nhân càng làm khổ cho nhau.
Bà Nguyễn Xuân D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Mai Văn H1.
Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản, nợ chung, nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Mai Văn H1 trình bày:
Bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 tự nguyện yêu nhau sống chung từ năm 2016, đến ngày 05 tháng 01 năm 2018 đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được, đến nay không còn tình cảm vợ chồng, đã ly thân từ tháng 4 năm 2022, bà Nguyễn Xuân D về nhà mẹ đẻ tại Khu phố 3, phường X, thành phố Y, tỉnh Bình Thuận sinh sống đến nay không còn quan tâm đến nhau. Bà Nguyễn Xuân D yêu cầu giải quyết ly hôn, ông Mai Văn H1 không có nguyện vọng hàn gắn và đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Xuân D.
Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản, nợ chung, nghĩa vụ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Mai Văn H1 yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy tình cảm giữa bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 mâu thuẫn đã trầm trọng, nguyên đơn yêu cầu cho ly hôn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Con chung: Không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Các phần khác không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:
- Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Xuân D được gửi trực tiếp đến Tòa án, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Bà Nguyễn Xuân D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Mai Văn H1. Người bị kiện có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc xét xử vắng mặt: Ông Mai Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và nhận thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt, ông Mai Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Mai Văn H1 là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Xuân D với ông Mai Văn H1 sống chung có đăng ký kết hôn ngày 05 tháng 01 năm 2018 tại UBND xã G, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Bà Nguyễn Xuân D trình bày do mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến nay bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 không còn chung sống với nhau, nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Nguyễn Xuân D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Mai Văn H1; ông Mai Văn H1 đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Xuân D. Cả hai không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.
[3] Xét thấy tình cảm của vợ chồng bà Nguyễn Xuân D với ông Mai Văn H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Xuân D.
Con chung: Bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, bà Nguyễn Xuân D phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Xuân D được ly hôn với ông Mai Văn H1.
2.Về con chung: Bà Nguyễn Xuân D và ông Mai Văn H1 không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5.Về án phí: Bà Nguyễn Xuân D phải chịu tiền án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006606 ngày 06 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 13/3/2023). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:
| -VKSND huyện H; -Chi cục T.H.A.D.S H; -UBND xã G; -Các đương sự; -Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Nguyên Kim |