vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235 Bộ luật tố tụng dân sự. * Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Như Q -Bùi Hồng P"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số : 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày : 20/03/2023
V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

* Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

* Các Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Thành

Ông Đinh Gia Bảo

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Lê Thị Phương Thúy - CBTA

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK tham gia phiên tòa :

Ông Bùi Nguyên Huy - KSV.

Hôm nay, ngày 20 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số : 321/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2022 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXX-ST ngày 08/02/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/02/2023 giữa các đương sự sau:

* Nguyên đơn : Chị Phạm Như Q - Sinh năm 1998.

Trú tại : Thôn Phước Tr - Diên T - DK.

( Có mặt )

* Bị đơn : Anh Bùi Hồng P - Sinh năm 1993.

Trú tại : Thôn T 4 - Diên S - DK.

( Vắng mặt )

NỘI DUNG VỤ ÁN :

- Nguyên đơn chị Phạm Như Q trình bày :

Tôi và anh Bùi Hồng P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2019 nhưng đến năm 2020 mới làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Diên S- DK. Vợ chồng tôi có 01 con chung là :

Bùi Diệu Nh - Sinh ngày 18/03/2020.

Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình hai bên không phù hợp, sau khi cưới anh P về ở rể nhà tôi và khi tôi vừa sinh con thì hai bên gia đình xảy ra mâu thuẫn, không qua lại thăm hỏi nhau. Bản thân anh P không thông cảm cho tôi mà còn chửi mắng tôi, xúc phạm gia đình tôi, khi con tôi được 3 tháng thì anh P không đến thăm con nữa và cũng không chu cấp tiền để nuôi con, không có trách nhiệm. Hiện tại giữa tôi và anh P đã sống ly thân hơn 3 năm, phía gia đình anh P cũng không nhận cháu, bản thân tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên tôi yêu cầu được ly hôn anh P.

Về con chung : Tôi xin nuôi cháu Bùi Diệu Nh, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung : Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết và không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định :

- Về thủ tục : Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh Bùi Hồng P đến tòa nhiều lần để giải quyết nhưng anh P vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục và đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất, tại phiên tòa hôm nay anh Bùi Hồng P vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật

-

- Về nội dung : Chị Phạm Như Q và anh Bùi Hồng P chung sống với nhau vào năm 2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại UBND xã Diên S - DK. Đây là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống chị Q và anh P đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị Q xin ly hôn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa xét : Việc mâu thuẫn của chị Q và anh P xảy ra do cách sống hai bên không phù hợp, theo chị Q trình bày thì giữa chị và anh P không đồng quan điểm sống, xúc phạm nhau từ những việc nhỏ trong cách sinh hoạt hàng ngày nên dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Hiện tại chị Q và anh P đã sống ly thân 3 năm, tại biên bản xác minh ngày 13/12/2022 của Công an xã Diên S - DK thì anh P có hộ khẩu tại địa chỉ trên và hiện nay vẫn làm ăn sinh sống tại địa phương nhưng khi Tòa án triệu tập thì anh P không đến tòa, điều này càng khẳng định rằng anh P cũng không quan tâm gì đến hạnh P gia đình. Do đó đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Về con chung : Giao cháu Bùi Diệu Nh sinh năm 2020 cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con chị Q không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết, nếu sau này có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

- Về tài sản chung : Anh P vắng mặt nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về án phí : Chị Q phải chịu án phí HNGĐ/ST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên !

QUYẾT ĐỊNH :

* Căn cứ vào điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình.

* Căn cứ vào 147, 227, 228, 235 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn : Chị Phạm Như Q được ly hôn anh Bùi Hồng P.

2/ Về con chung : Giao cháu Bùi Diệu Nh - Sinh ngày 18/03/2020 cho chị Phạm Như Q trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Bùi Hồng P đến khi nào chị Q có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.

Anh Bùi Hồng P được quyền thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung : Anh Bùi Hồng P vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết và chị Q xác nhận không có nợ chung.

4/ Về án phí : Chị Phạm Như Q phải nộp 300.000đ án phí HNGĐ/ST. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp theo biên lai thu tiền số 2201 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ