vanban.org

Bản án 10/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn Chư"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST
Ngày 19 tháng 7 năm 2023.
“ V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Bà Đàm Thị Hảo

Thư ký phiên tòa: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Ch, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Bàn Thị D, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn B, xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Văn Ch trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Bàn Thị D xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 23/3/2021. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến tháng 11 năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tính cách của hai vợ chồng không hợp nhau, do vậy hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ đó đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân và cũng không quan tâm đến nhau. Nay tôi xin được ly hôn với chị Bàn Thị D.

Về con chung: Anh Lê Văn Ch và chị Bàn Thị D chưa có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn Ch xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Bàn Thị D: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn, Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân, quan hệ gia đình của vợ chồng tại địa phương và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, không Hòa giải được.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn anh Lê Văn Ch vẫn giữ nguyên yêu cầu được Ly hôn với chị Bàn Thị D.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình tố tụng, xây dựng hồ sơ và tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã đảm bảo đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Văn Ch, cho anh Ch được ly hôn với chị Bàn Thị D. Anh Lê Văn Ch phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, nguyên đơn và bị đơn có nơi cư trú tại thôn B, xã Yến D, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể. Quá trình giải quyết vụ án do chị Bàn Thị D đã không hợp tác với Tòa án, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Bàn Thị D không hợp tác với Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Ch và chị Bàn Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 23/3/2021 nên xác định hôn nhân của hai anh chị là hợp pháp. Nay anh Lê Văn Ch khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Bàn Thị D, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh Ch là phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

Về con chung: Hai anh chị chưa có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Lê Văn Ch phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 207; khoản 2 Điều 208; điểm b khoản 2 Điều 227/Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của anh Lê Văn Ch.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Ch được ly hôn với chị Bàn Thị D.

- Về con chung: Hai vợ chồng chưa có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Văn Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147/Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Lê Văn Ch phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí anh Lê Văn Ch đã nộp theo biên lai số: 0001169 ngày 04/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận anh Lê Văn Ch đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ