- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị H - Nguyễn Nhật T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-02-2023. V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Cho
2. Ông Hồ Thanh Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 404/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HN ngày 10 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H
Địa chỉ: ấp L, thị trấn C, huyện CTA, tỉnh H. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhật T
Địa chỉ: ấp L, thị trấn C, huyện CTA, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Nhật T chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới tại địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện CTA, tỉnh H vào ngày 10/02/2011. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đông quan điểm, anh T thường xuyên cờ bạc, ngoài ra còn có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bỏ bê vợ con, không lo chăm sóc gia đình và đã sống ly thân từ năm 2020. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
Về con chung: Thời gian sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Tường V, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/5/2009, hiện con đang sống chung với chị. Chị có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có nên không có yêu cầu
Về nợ chung: Không có nên không có yêu cầu
Bị đơn anh Nguyễn Nhật T quá trình tố tụng đã được Toà án Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng không đến toà nên chưa thể hiện ý kiến.
Tại phiên toà: Chị Trần Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Nhật T tiếp tục vắng mặt nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Nhật T, hiện tại có nơi cư trú tại ấp L, thị trấn C, huyện CTA, tỉnh H. Theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A.
Về xét xử vắng mặt. Anh Phạm Nhật T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Nhật T chung sống với nhau từ năm 2008, có tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Chị H yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đông quan điểm, anh T thường xuyên cờ bạc, ngoài ra còn có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bỏ bê vợ con, không lo chăm sóc gia đình, Tòa đã mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho hai người được đoàn tụ nhưng anh T không tham dự. Chị H kiên quyết yêu cầu được ly hôn. Xét quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng thương yêu, tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tạo lập gia đình hạnh phúc nhưng chị H và anh T đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay lại không tạo điều kiện để hàn gắn thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
. Về con chung: Chị H có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, chị H và anh T sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Tường V, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/5/2009, hiện tại cháu V đang sống chung với chị H. Anh T biết chị H yêu cầu ly hôn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng vẫn không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con. Do cháu Nguyễn Tường V hiện tại đã trên 7 tuổi, theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình thì việc giao cháu cho ai được trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét nguyện vọng của cháu và tại Tờ tự khai của cháu V thể hiện nếu cha mẹ không sống chung nữa thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó để không làm xáo trộn, ảnh hưởng đến tâm lý của cháu, Hội đồng xét xử giao cháu V cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết
. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Trần Thị H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Tường V, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/5/2009 cho chị Trần Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Nhật T chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Anh Nguyễn Nhật T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0012235 ngày 15/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành án phí. Chị H không phải nộp thêm.
6. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H, anh Nguyễn Nhật T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang - VKSND huyện Châu Thành A - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành A - UBND thị trấn C - Đương sự. - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |