vanban.org

Bản án 10/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T

Buộc bà Hồ Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim T 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng) và lãi suất tính từ đến ngày 14/2/2022 là 1.942.200 đồng tổng cộng là 19.942.200 đồng (Mười chín triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn hai trăm đồng) Về án phí: Bà Hồ Thị L phải chịu 997.110đ (Chín trăm chín mươi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 10/2023/DS-ST
Ngày: 10/03/2023
V/v tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt

2. Ông Phan Minh Quốc

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXX-ST ngày 04 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp Hòa Thới, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1972;

Địa chỉ: ấp Bắc Thạnh, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày:

Do quen biết chị Nguyễn Thị Kim T có cho chị Hồ Thị L vay tiền 20.000.000 vào ngày 14/2/2021 không thỏa thuận lãi suất, thời gian vay 12 tháng thời hạn trả là 14/2/2022 từ khi vay đến nay chị L trả được 2.000.000đ còn lại 18.000.000đ thì không trả nữa. Nay chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu chị Hồ Thị L phải trả số tiền 18.000.000 đồng ( mươi tám triệu đồng) và tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 14/2/2022 cho đến khi xét xử xong vụ án.

Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo hòa giải và triệu tập hợp L đương sự theo quy định pháp luật nhưng bà Hồ Thị L không đến tham gia phiên hòa giải, cũng không gửi văn bản ghi ý kiến mà không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không ghi nhận ý kiến của bà L.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, căn cứ vào hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim T làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị L có địa chỉ: Ấp Bắc Thạnh, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang phải trả cho bà 18.000.000đ. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay, bà L đã được Tòa án tống đạt Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp L theo quy định pháp luật, nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà L.

Về nội dung: Bà T khởi kiện yêu cầu bà L phải trả cho bà T 18.000.000đ tiền vay chưa trả và lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 14/02/2022.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại giấy vay tiền (nhận nợ) ngày 14/2/2021 bà L, có ký tên vay tiền của bà T là 18.000.000đ, thỏa thuận 12 tháng sau sẽ trả. Từ khi vay đến nay bà L chỉ trả 2.000.000đ, còn 18.000.000đ chưa trả. Như vậy, giữa bà T và bà L có xác lập hợp đồng vay tài sản với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa hai bên đương sự được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, có làm giấy tờ phù hợp với Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, việc bà T yêu cầu bà L phải trả số tiền còn thiếu và lãi suất là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do vậy, buộc bà L phải có trách nhiệm trả số tiền còn thiếu 18.000.000đ cho bà T và lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 14/02/2022 là có cơ sở.

Về lãi suất: Khi cho vay các bên không xác định rõ mức lãi suất nền cần áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự để tính mức lãi suất, cụ thể như sau: Tiền lãi tính từ ngày 14/02/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 10/3/2023 là 13 tháng làm tròn x 0.83%/tháng x 18.000.000 đồng =1.942.200 đồng.

Về án phí, căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án, do bị buộc phải có nghĩa vụ trả tiền cho bà T nên bà Hồ Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; và các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và ị L phí.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim T

Buộc bà Hồ Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị Kim T 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng) và lãi suất tính từ đến ngày 14/2/2022 là 1.942.200 đồng tổng cộng là 19.942.200 đồng (Mười chín triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn hai trăm đồng)

Về án phí: Bà Hồ Thị L phải chịu 997.110đ (Chín trăm chín mươi bảy ngàn một trăm mười đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Kim T được nhận lại 500.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0011311 ngày 09/11/2022 của Chi cụ thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp ị L hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ