vanban.org

Bản án 10/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/01/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

Buộc ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 10.608.540 đồng (mười triệu sáu trăm lẻ tám nghìn năm trăm bốn mươi đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 10/2023/DS-ST
Ngày 17 - 01 - 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 407/2022/TLST-DS, ngày 07 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 542/2022/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn:

Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Ông Đỗ Vủ L, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 25/02/2022, ông Đỗ Vủ L vay ông số tiền 9.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 1,66%/tháng. Quá trình nhận tiền, ông L có ký tên vào biên nhận nợ, hẹn thời gian trả nợ vào ngày 25/3/2022. Từ khi còn nợ đến nay ông L không trả như thỏa thuận, ông có liên hệ yêu cầu trả tiền nhưng ông L cứ hẹn và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Bà Huỳnh Thị N là vợ ông L, do nơ phát sinh trong thời ký hôn nhân nên yêu cầu bà Huỳnh Thị N cùng liên đới trả nợ với ông Đỗ Vủ L. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N liên đới trả số tiền vốn vay 9.000.000 đồng và lãi suất phát sinh từ ngày 25/3/2022 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp lời khai chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N trả tiền từ việc vay tiền còn nợ chưa thanh toán nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Ông Nguyễn Việt S xác định ông Đỗ Vủ L vay số tiền là 9.000.000 đồng. Ông L là người ký tên vào biên nhận nợ. Từ đó, có căn cứ xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

[3]. Về nội dung: Ông Nguyễn Việt S xác định là vào ngày 25/02/2022, ông Đỗ Vủ L vay ông số tiền 9.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 1,66%/tháng. Thời gian trả nợ là ngày 25/3/2022. Từ khi vay đến nay ông L không đóng lãi, không trả vốn như đã thỏa thuận. Ông Nguyễn Việt S có liên hệ đòi nhưng ông L cứ hứa hẹn và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó ông L phải có trách nhiệm trả tiền cho ông Nguyễn Việt S.

[4]. Về nghĩa vụ thanh toán: Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà N là vợ ông L, nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên bà N phải có trách nhiệm liên đới cùng ông L trả số tiền còn nợ cho ông Sử, số tiền cụ thể được tính như sau: 9.000.000 đồng tính lãi từ ngày 25/02/2022 đến ngày 17/01/2023 là 10 tháng 23 ngày, tiền lãi được tính như sau: 9.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 10 tháng 23 ngày = 1.608.540 đồng. Như vậy, tổng cộng vốn và lãi là 10.608.540 đồng.

[5]. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông Nguyễn Việt S đã cung cấp biên nhận nợ ngày 15//02/2022 có nội dung ông L còn nợ số tiền vay là 9.000.000 đồng.

[6]. Đối với ông L, bà N không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do ông Nguyễn Việt S cung cấp và cũng không có yêu cầu phản tố. Do ông ông L, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký kết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S là buộc ông ông L, bà N phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S tổng số tiền là 10.608.540 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

[7]. Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên ông L, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Áp dụng điều 463; điều 468 của Bộ luật Dân sự.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

Buộc ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền là 10.608.540 đồng (mười triệu sáu trăm lẻ tám nghìn năm trăm bốn mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Đỗ Vủ L, bà Huỳnh Thị N phải chịu 530.427 đồng (năm trăm ba mươi nghìn bốn trăm hai mươi bảy đồng).

Ông Nguyễn Việt S được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018260 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ