- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị L - Lý Thị H "Hợp đồng vay tài sản""
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:10/2023/DS - ST Ngày 25/4/2023 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý
Ông Rcom Blan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 3 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2023/QĐST- DS ngày 05/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: tổ dân phố 4, thị I, huyện G, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Đức Nam, sinh năm 1961; địa chỉ: Số 203 Lý Thái Tổ, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lý Thị S (tên gọi khác: Lý Thị H ), sinh ngày 01/7/1961;địa chỉ: Làng Ku Toong, xã P, huyện G, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 12/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người đại diện theo ủy quyền là ông Ngô Đức Nam trình bày:
Ngày 28/12/2018 (âm lịch) tức ngày 02/02/2019 (dương lịch) bà Lý Thị H (tên gọi khác là Lý Thị S) có vay của bà Nguyễn Thị L số tiền 45.000.000đ, thời hạn trả ngày 28/12/2019 (âm lịch) tức ngày 22/01/2020 (dương lịch), lãi suất thỏa thuận bằng lời nói là 1,66%/tháng, mục đích vay chi tiêu gia đình, hợp đồng được lập thành “Giấy mượn tiền”, bà H ký, điểm chỉ xác nhận vào mục “Bên vay” của Giấy mượn tiền, anh con rể bà H ký xác nhận là người làm chứng. Từ khi vay cho đến hạn trả nợ bà H chưa trả cho bà Lộc khoản tiền gốc, lãi nào. Bà H vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vì vậy, bà Lộc khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H phải thực hiện nghĩa vụ sau:
1. Yêu cầu bà H trả tiền nợ gốc 45.000.000đ.
2. Yêu cầu bà H trả tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng, từ ngày 28/12/2018 tạm tính đến ngày khởi kiện là 34.362.000đ. Yêu cầu Tòa án tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm.
Để chứng minh yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ là Bản gốc “Giấy mượn tiền” ngày 28/12/2018 (Âm lịch) có chữ ký, điểm chỉ của bà Lý Thị H.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/12/2022 bị đơn bà Lý Thị H trình bày:
Bà Lý Thị H còn có tên gọi khác là Lý Thị S (theo Căn cước công dân là Lý Thị Sai) thừa nhận ngày 28/12/2018 (âm lịch) tương ứng với ngày 02/02/2019 (dương lịch) bà có vay của bà Nguyễn Thị L 45.000.000đ, thời hạn trả nợ là ngày 28/12/2019 âm lịch tương ứng với ngày 22/01/2020 (dương lịch). Việc vay tiền được lập thành hợp đồng là “Giấy mượn tiền”, bà H có ký xác nhận vào hợp đồng dưới mục “bên vay”, có anh Trần Tấn Th là con rể ký xác nhận là người làm chứng. Trong hợp đồng không ghi lãi suất, nhưng hai bên có thỏa thuận lãi suất bằng lời nói là 3%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H đã trả cho bà Lộc được 10.000.000đồng tiền lãi vào cuối năm 2020, bà không nhớ rõ thời điểm trả, khi trả nợ chỉ có bà Lộc với bà H, không có người làm chứng,không lập thành văn bản. Do dịch bệnh Covid -19, kinh tế gia đình khó khăn nên bà không có khả năng trả nợ cho bà Lộc khi đến hạn.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lộc, bà H có ý kiến như sau:
1. Đối với tiền nợ gốc 45.000.000đồng thì bà xin bà Lộc cho bà được trả dần làm 2 đợt, đợt 1 ngày 31/12/2022 trả 20.000.000đồng; đợt 2 ngày 30/01/2023 trả 25.000.000đồng.
2. Đối với tiền lãi thì bà H xin bà Lộc miễn tiền lãi.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16/02/2023 để các đương sự thống nhất, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng việc hòa giải không thành. Các đương sự không tranh chấp về chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án; không yêu cầu, đề nghị Tòa án xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi, chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc 45.000.000đồng.
Bị đơn bà Lý Thị H thừa nhận ngày 28/12/2018(âm lịch) có ký, xác nhận vào “Giấy mượn tiền” có nội dung vay của bà Nguyễn Thị L 45.000.000đ, tuy nhiên trong số tiền vay này thì có chỉ có 30.000.000đ là tiền vay gốc còn lại 15.000.000đ là khoản tiền lãi nhập vào thành tiền vay, hợp đồng có anh Trần Tấn Th là con rể của bà H ký, xác nhận làm chứng. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H đã trả cho bà Lộc 10.000.000đ tiền lãi, nhưng không nhớ rõ thời gian trả, không lập chứng từ về việc trả lãi. Vì vậy, chỉ đồng ý trả cho bà L khoản tiền gốc 30.000.000đ.
Ý kiến của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục, thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
- Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi, xét yêu cầu này là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện này.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L: Buộc bị đơn bà Lý Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị L khoản tiền vay 45.000.000đồng.
Về án phí:
- Bị đơn Lý Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm được hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
. Về Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Lý Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, lãi phát sinh từ hợp đồng vay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn Lý Thị H có địa chỉ cư trú tại xã Ia Pếch, huyện I, tỉnh G, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai.
. Về nội dung:
. Về việc xác lập hợp đồng, hiệu lực của Hợp đồng.
Bà H có ý kiến cho rằng trong số tiền 45.000.000đồng mà bà ký giấy vay tiền của bà Lộc vào ngày 28/12/2018 âm lịch thì gồm có 30.000.000đồng tiền vay gốc và 15.000.000đồng tiền lãi. Tuy nhiên, bà H không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho việc này là có căn cứ, phía nguyên đơn cũng không đồng ý với ý kiến này của bà H. Do vậy, ý kiến này của bà H là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Căn cứ ý kiến của nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là bản chính “Giấy mượn tiền” (bút lục số 32) và lời trình bày của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa (bút lục số 26) đủ cơ sở khẳng định: ngày 28/12/2018 (âm lịch) giữa bà Nguyễn Thị L với bà Lý Thị H xác lập hợp đồng vay tiền, có nội dung bà H vay của bà Lộc 45.000.000đồng, thời hạn vay đến ngày 22/01/2020 (dương lịch). Xét, Hợp đồng vay tiền giữa bà Lộc với bà H được xác lập tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự nên hợp đồng hợp pháp, có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ như đã cam kết.
. Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Mặc dù bà H trình bày ý kiến là vào cuối năm 2020, bà H đã trả cho bà lộc 10.000.000đồng tiền lãi, tuy nhiên bà H không có chứng cứ chứng minh việc đã trả khoản tiền này cho bà Lộc, phía nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không thừa nhận việc này. Do đó, ý kiến này của bà H về việc đã trả lãi là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Vì vậy, từ khi vay đến nay bà H chưa trả tiền khoản tiền gốc, lãi nào cho bà Lộc.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng:
Đối với yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc 45.000.000đồng: Hội đồng xét xử thấy rằng, khi đến hạn trả nợ bà H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay 45.000.000đồng cho bà Lộc là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Điều 463 của Bộ luật Dân sự quy định về Hợp đồng vay tài sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên.. Khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận..”, Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau “Bên vay tài sản thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”. Vì vậy, bà Lộc khởi kiện yêu cầu bà H phải trả tiền vay 45.000.000đồng cho bà là có căn cứ nên được chấp nhận.
Đối với yêu cầu khởi kiện về việc trả tiền lãi: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc trả lãi. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc trả tiền lãi của phía nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.
. Về án phí sơ thẩm:
Bị đơn bà Lý Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, Điều 227, 244, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463, 464, 465, 466, 468 của Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Buộc bà Lý Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L 45.000.000đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc trả tiền lãi.
3. Về án phí:
Bị đơn bà Lý Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.250.000đồng.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.984.050đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số 0008729 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Gia Lai.
4. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Chi cục THA dân sự huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trọng Việt Anh |