vanban.org

Bản án 10/2023/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Giàng A H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn đối với anh Trần Văn S, về việc yêu cầu anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 400.

Về án phí: Anh Giàng A H được miễn nộp tiền án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004384, ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Quyền kháng cáo:… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Giàng A H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Giàng A H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn đối với anh Trần Văn S, về việc yêu cầu anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 400.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 10/2023/DS- ST
Ngày 29-8-2023
“V/v Tranh chấp bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do tính
mạng bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và ông Phan Hữu Tỷ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Lang Thị Tố - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2023/TLST-DS, ngày 09 tháng 01 năm 2023 về: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXX-ST, ngày 10 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Giàng A H, sinh năm 2003; địa chỉ: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt

- Bị đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn 3B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mùa Thị D, sinh năm 1987; Giàng Thị N, sinh năm 2006 và Giàng A T, sinh năm 2008; cùng địa chỉ: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, đều vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Giàng A H, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt (văn bản uỷ quyền ngày 25-4-2022)

Chị Giàng Thị D, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Anh Trần Quang T, sinh năm 1978, địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 10 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên nguyên đơn và là đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Giàng A H trình bày:

Bố anh là Giàng A D, sinh ngày 01-01-1984, tháng 01 năm 2022 ông D đi làm kinh tế tại thôn 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, trong quá trình tham gia giao thông bằng xe máy thì ông Trần Văn S, sinh ngày 26-6-1978, điều khiển xe ô tô BKS 48C-04591 va chạm với ông Giàng A D, hậu quả làm ông D chết tại chỗ, xe mô tô hư hỏng nhẹ. Sau khi xảy ra sự việc Công an huyện Đắk Glong đã tiến hành điều tra và kết luận anh Trần Văn S không có lỗi nên quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Do vậy, anh làm đơn khởi kiện, yêu cầu anh S phải bồi thường các khoản: Buộc anh S bồi thường thiệt hại về sức khoẻ theo Điều 590 của Bộ luật Dân sự, tiền thu nhập thực tế bị mất là 50.000.000 đồng; bồi thường tính mạng là 100.000.000 đồng; chi phí mai táng (mua quan tài 10.000.000 đồng), tiền mua trâu 30.000.000 đồng, tiền mua lơn 15.000.000 đồng; tiền thuê xe dịch vụ chở xác ông D từ xã Đ về xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên 55.000.000 đồng được trừ số tiền anh S đã trả trước là 20.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng, tiền chi phí đi lại từ Điện Biên đến huyện Đ 20.000.000 đồng. Tổng số tiền bồi thường là 400.000.000 đồng.

- Ý kiến bị đơn anh Trần Văn S trình bày: Thời gian trước đây anh S có chạy xe tải BKS 48C-045.91 chở dừa từ Bến Tre lên địa bàn xã Quảng Sơn để bán, khi xe di chuyển đến địa bàn xã Đ (đoạn đường cua và dốc), khi đang điều khiển xe xuống dốc, thời điểm này có 01 xe máy chạy lên dốc lấn sang làn đường của anh S, khi nhìn thấy xe ô tô do anh S điều khiển, người đi xe máy dùng thắng để giảm tốc độ, do khoảng cách gần và đoạn cua gấp nên người đi xe máy đã đâm vào bánh trước xe của anh S, do sự kiện bất ngờ nên xe của anh S đã cán qua người đi xe máy, hậu quả làm người đi xe máy chết tại chỗ, sau khi xảy ra sự việc anh S đi nhờ xe máy đến công an xã Đ trình báo sự việc, công an huyện Đắk Glong tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và đã có kết luận việc xe ô tô của anh S tông người đi xe máy hoàn toàn do lỗi của người đi xe máy, anh S không có lỗi nên không khởi tố vụ án. Sau đó người nhà ông D đã chuyển thi thể ông D về Điện Biên để mai táng, anh S tự nguyện hỗ trợ gia đình ông D số tiền 20.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh S phải bồi thường tổng số tiền là 400.000.000 đồng, anh S không đồng ý, do anh S không có lỗi, đối với số tiền anh S tự nguyện hỗ trợ nêu trên anh S không yêu cầu, đề nghị gì.

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Giàng Thị D trình bày: Chị đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của anh Giàng A H đối với việc yêu cầu anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại cho ông Giàng A D và không có yêu cầu gì khác.

- Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang T trình bày: Trước đây, anh T có thoả thuận cho anh Trần Văn S thuê xe tải, loại xe 2,5 tấn, BKS 48C – 04591, việc thoả thuận cho thuê chỉ bằng miệng, không lập văn bản, giấy tờ, hai bên thoả thuận thuê xe theo chuyến, anh S thuê xe để chạy về Bến Tre chở dừa lên địa bàn xã Q bán; khi cho thuê xe anh T biết anh S đã có giấy phép lái xe; giữa anh T và anh S tự hiểu với nhau mọi chi phí phát sinh trong quá trình anh S thuê xe như chi phí đổ dầu, tiền phí đi đường… nếu gây tai nại thì anh S tự chịu trách nhiệm. Thời điểm xảy ra tai nạn tại địa bàn xã Đ anh T được anh S gọi điện thoại thông báo, tuy nhiên anh T được biết do người đi xe mô tô tự té vào xe tải; hiện nay người nhà của người bị nạn khởi kiện tại Toà án, anh T đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Do anh không liên quan nên đề nghị Toà án xem xét giải quyết vắng mặt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành không đầy đủ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 584, Điều 585 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận việc anh S tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng cho gia đình anh Hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Giàng A H yêu cầu bị đơn anh Trần Văn S, hiện nay đang sinh sống tại Thôn 3B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phải bồi thường các khoản liên quan đến tính mạng bị xâm phạm là 400.000.000 đồng, sự việc tai nạn xảy ra tại địa bàn xã Đ. Vì vậy, tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm”. Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Giàng A H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn, yêu cầu bị đơn anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 400.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

. Xét ý kiến của bị đơn anh Trần Văn S trình bày, khi xe tải lưu thông đến địa bàn xã Đ, đến đoạn đường cua, dốc thì xe mô tô do ông Giàng A D đi ngược chiều lấn sang làn đường của xe anh S lưu thông, khi này ông D giảm tốc độ, do khoảng cách gần và đoạn cua gấp nên người đi xe máy đã đâm vào bánh trước xe của anh S, do sự kiện bất ngờ nên xe của anh S đã cán qua người ông D.

. Tại báo cáo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, ngày 10-5-2022 xác định: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông ngày 07-01-2022 là do anh Giàng A D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47K1-18578 trên đoạn đường cong, cua thì bị té ở làn đường bên phải theo hướng lưu thông của anh D. Sau khi bị té anh D văng sang làn đường ngược chiều vào ngay đầu xe ô tô tải phía bên trái (loại xe 2,5 tấn, màu xanh, biển kiểm soát 48C – 04591) do anh Trần Văn S điều khiển lưu thông theo hướng ngược chiều. Vì vậy, anh S không có thời gian để xử lý kịp, nên bánh trước và bánh sau bên trái của xe ô tô do anh S điều khiển đã cán qua người anh D, hậu quả anh D chết tại chỗ. Hành vi anh S điều khiển xe cán qua người anh D thuộc sự kiện bất ngờ. Vì vậy, hành vi của anh Trần Văn S không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015”, đồng thời Công an huyện Đắk Glong ban hành Quyết định số 10/QĐ-KKT, ngày 10 tháng 5 năm 2022 không khởi tố vụ án hình sự. Việc không khởi tố vụ án hình sự là không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Trần Văn S.

. Xét việc ông D bị ngã xe hoàn toàn do lỗi của ông D, không có sự tác động hoặc va chạm giữa xe ô tô do anh Trần Văn S điều khiển với xe mô tô do ông Giàng A D điều khiển, mặt khác việc anh S điều khiển xe ô tô cán qua người ông D là sự kiện bất ngờ, đây được xem là sự kiện bất khả kháng vì khi ông D điều khiển xe đến đoạn đường cong, cua, tầm nhìn bị hạn chế nên đã té ngã ra đường và ông D văng sang bên trái theo hướng điều khiển xe của anh S, do khoảng cách va chạm gần, mặt khác việc ông D té, ngã văng sang làn đường bên trái, anh S không thể biết trước và không thể lường trước nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06-9-2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hướng dẫn về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định:

“Người gây thiệt hại, chủ sở hữu tài sản, người chiếm hữu tài sản không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh Giàng A H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn, yêu cầu bị đơn anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, chi phí mai táng, tổn thất tinh thần… với tổng số tiền là 400.000.000 đồng là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

. Xét số tiền anh Trần Văn S đã tự nguyện bỏ ra 20.000.000 đồng để hỗ trợ gia đình anh Giàng A H trong việc đưa thi thể ông Giàng A D về Điện Biên mai táng, số tiền này anh S không yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Quang T, về việc thoả thuận cho anh Trần Văn S thuê xe ô tô BKS 48C – 04591, việc cho thuê hai bên chỉ nói miệng, mọi chi phí phát sinh trong quá trình thuê do anh S tự chịu, xét thấy, biên bản lấy lời khai anh S thừa nhận có thuê xe của anh T, việc thuê chỉ nói bằng miệng, đồng thời mọi chi phí phát sinh trong quá trình thuê do anh S chịu là có căn cứ. Xét mặc dù anh T là chủ sở hữu xe ô tô BKS 48C – 04591, đã chuyển giao quyền quản lý, sử dụng cho anh S hợp pháp, nên anh T không chịu trách nhiệm trong thời gian anh S thuê xe, do anh S không phải chịu trách nhiệm bồi thường, nguyên đơn không yêu cầu anh T phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; anh T không yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Do nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm phạm, nguyên đơn có đơn miễn nộp tiền án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm d khoản 1 Điều 40; Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 601 của Bộ luật Dân sự; điểm d khoản 1 khoản 12 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Giàng A H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn đối với anh Trần Văn S, về việc yêu cầu anh Trần Văn S phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 400.000.000 đồng

2. Về án phí: Anh Giàng A H được miễn nộp tiền án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004384, ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ