vanban.org

Bản án 10/2022/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/9/2021. [2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn C phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 17-01-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Hùng.

- Thẩm phán:

Bà Trần Thị Bé.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Nam.

Ông Trần Hoài Trung.

Ông Nguyễn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quảng Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phùng Thanh Liễu – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2021/TLST-HS ngày 01/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Văn C; tên gọi khác: C; sinh ngày: 24/4/1985 tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lái xe đào; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Hồng T và bà Đặng Thị A; Vợ: Huỳnh Thị N, Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2021 cho đến nay, bị cáo đang giam; có mặt;

- Người bào chữa: Ông Nguyễn Công T, Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Công T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi, là người bào chữa theo luật định cho bị cáo Võ Văn C; địa chỉ: tổ dân phố L, phường Trương Quang T, Thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

- Bị hại: Anh Võ Duy S (B), sinh năm 1991; trú tại: đội xx, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt;

Người có quyền lợi, N vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị A, sinh năm 1963; trú tại: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

2. Ông Bùi Trọng N, sinh năm 1968; trú tại: đội x, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

3. Ông Phan Văn G, sinh năm 2000; trú tại: thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt;

4. Ông Bùi Trọng H, sinh năm 1964; trú tại: đội x, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

5. Ông Bùi Trọng D, sinh năm 1989; trú tại: đội x, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

6. Ông Lê Trung T, sinh năm 1982; trú tại: thôn A, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt;

Người làm chứng:

1. Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1993; trú tại: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt;

2. Ông Đặng Đình T, sinh năm 1971; trú tại: liên tổ x, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt;

3. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; trú tại: đội x, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn C và ông Bùi Trọng N có mối quan hệ quen biết nhau, ông N có mượn của C một con gà trống để đúc giống. Vào chiều tối ngày 06/4/2021 ông Bùi Trọng H, là anh em chú bác ruột với ông N, ở phía sau nhà ông N đến nói với ông N về việc con gà trống của ông H đá lộn với con gà trống của ông N và bị thương (là con gà ông N đã mượn của C).

Đến sáng ngày 07/4/2021, ông N điện thoại cho C biết sự việc và C đến nhà ông N xem thì thấy con gà bị thương sắp chết. Sau đó C điều khiển xe máy đi làm ở huyện S và C cho rằng trong lúc 02 con gà đá lộn với nhau thì ông H đã dùng cây đập vào con gà của C dẫn đến việc con gà bị thương nặng, nên C nảy sinh bực tức. Sau khi ăn cơm trưa và uống rượu, C điều khiển xe máy về nhà, trên đường đi C ghé tiệm sắt “Tài Lê” ở thị trấn S, huyện T mua một con dao chặt xương dài khoảng 40 cm, giá khoảng 60.000 đồng và điều khiển xe máy đi tới nhà ông Bùi Trọng H. Tại đây C dùng con dao đã mua chặt 02 cái vào cổ con gà trống đang nhốt trong giỏ sắt làm con gà đứt cổ chết, rồi C điều khiển xe máy đi về nhà.

Ông H tức giận việc C dùng dao chém chết gà nên ông H điện thoại cho con trai ông H là Bùi Trọng D nói sự việc C đến nhà chém chết gà, D đang đi mua thuốc nam ở huyện B nên điện thoại cho anh vợ là anh Lê Trung T nhờ anh T xuống nhà ông H xem tình hình. Lúc này, khoảng 15 giờ ngày 07/4/2021, anh T đang nhậu tại nhà cùng với Võ Duy S, Phan Văn G, Lê Minh P, nên T rủ P, S, G cùng nhau đi xuống nhà ông H.

Khi đến nhà ông H, ông H nói chuyện với T về chuyện C đến nhà chém chết gà rồi rủ T đi xuống nhà C để nói chuyện, cả nhóm cùng đi đến nhà ba mẹ C (ông H không biết C đã ra ở riêng) nhưng không gặp C mà gặp bà Đặng Thị A là mẹ của C, ông H nói với bà A và có lời lẽ hăm dọa đánh C. Trong lúc nhóm người của ông H đi đến nhà ba mẹ C thì ông N điện thoại nói cho C biết, C trả lời “cháu không sợ ai hết”.

Sau đó nhóm người ông H về lại sân nhà ông N đứng nói chuyện. Lúc này, C bực tức và cho rằng việc nhóm người của ông H đến nhà ba mẹ C là để tìm đánh C nên C điều khiển xe máy quay lại nhà ông H để đánh nhóm người ông H. Khi đến khu vực nhà ông Bùi Trọng H (hàng xóm ông H), C nhìn thấy nhóm người ông H đang đứng ở sân nhà ông Bùi Trọng N nên C xô xe máy chạy đến, trên tay cầm con dao đã sử dụng chém con gà và chạy đến đánh nhóm người ông H.

Thấy C cầm dao chạy đến, G bỏ chạy trốn, S, T mỗi người nhặt một khúc cây sẵn có ở khu vực sân nhà ông N chạy lại đánh C. S cầm cây đánh vào người C thì bị C dùng dao chém một cái vào đầu gây thương tích nên S bỏ cây, ôm đầu và lùi về phía sau, T cầm cây đánh C nhưng không trúng thì bị C dùng dao chém trúng vào cẳng tay trái gây thương tích, T xông tới ôm giữ C, P chạy tới ôm giữ C từ phía sau, ông H chạy tới giữ tay cầm dao của C rồi P cùng ông H vật C ngã xuống đất, lúc này Phan Văn G chạy đến lấy con dao trên tay C rồi vứt con dao về phía cây rơm gần đó, thấy S bị thương tích nặng nên G chở S đi cấp cứu. P dùng 01 đoạn dây ni lông và 01 đoạn ống cân nước để cột tay, chân C lại.

Riêng Võ Văn C, cũng bị thương tích 01 vết thương ở đỉnh đầu, không xác định được vết thương do ai, vật gì gây ra tại thời điểm nào.

Kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Võ Duy S số 127/TgT ngày 21/5/2021, kết luận: khuyết sọ đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán đỉnh phải đã điều trị không còn tổn thương trên chuẩn đoán hình ảnh, 01 sẹo đỉnh phải, tổn thương phù hợp vật sắt gây thương tích, tỷ lệ 26%.

Kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Lê Trung T số 128/TgT ngày 21/5/2021, kết luận: 01 sẹo cẳng tay trái kt (6.5x0.2)cm, 01 sẹo cánh tay phải kt (0.5x0.3)cm, tổn thương phù hợp với vật sắt gây thương tích, tỷ lệ 03%.

Kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Võ Văn C số 125/TgT ngày 21/5/2021, kết luận: Sẹo đỉnh đầu, tổn thương phù hợp với vật sắt gây thương tích, tỷ lệ 02%.

Tại bản Cáo trạng số 2219/CT-VKS ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Võ Văn C về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn C từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2022 giữa Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi.

Về trách nhiệm dân sự: tại Cơ quan điều tra bị cáo Võ Văn C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh Võ Duy S số tiền là 20.000.000 đồng. Anh Võ Duy S đã viết đơn xin bãi nại về phần trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

Luận cứ bào chữa của Luật sư Nguyễn Công T cho bị cáo Võ Văn C: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Võ Văn C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bãi nại về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; gia đình bị cáo có công Cách mạng, có ông nội của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhì, cha của bị cáo được Hội Đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang Hạng 3, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen; gia đình bị cáo hiện nay có hoàn cảnh hết sức khó khăn, vợ bị bệnh tâm thần kinh, cha mẹ già yếu, đang nuôi 02 con nhỏ; bị cáo Võ Văn C cũng bị đánh thương tích 2%. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án thấp hơn khung hình phạt về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 04 năm tù đến 05 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Võ Duy S; người làm chứng ông Đặng Đình T, bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, N vụ liên quan ông Phan Văn G, ông Lê Trung T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[II] Về nội dung:

Hành vi của bị cáo Võ Văn C: Xuất phát từ việc Võ Văn C nghi ngờ ông Bùi Trọng H dùng cây đánh khiến con gà trống của C bị chết nhưng không có căn cứ, nên vào trưa ngày 07/4/2021 Võ Văn C mang theo một con dao chặt xương dài khoảng 40cm qua nhà ông Bùi Trọng H tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi chém chết con gà trống đang nhốt trong lồng của ông H dẫn đến các bên cải vã với nhau, sau đó C điều khiển xe mô tô về nhà. Bực tức vì Võ Văn C vô cớ dùng dao chém chết con gà, nên ông H điện thoại cho anh Bùi Trọng D (con đẻ của ông H) kể lại sự việc, anh D điện thoại cho anh vợ là anh Lê Trung T kể lại sự việc cho anh T nghe. Lúc này, anh T đang nhậu cùng với các anh Võ Duy S, Phan Văn G, Lê Minh P nên anh T rủ các anh S, G, P đến nhà ông Bùi Trọng H; sau đó, ông H, anh T, anh S, anh G cùng qua nhà Võ Văn C để nói chuyện thì không gặp C, chỉ gặp bà A (là mẹ đẻ của C) ông H có nói sẽ đánh C cho bà Đặng Thị A nghe. Khi Võ Văn C biết được nhóm ông H qua nhà bị cáo tìm đánh bị cáo, nên C đã mang theo 01 con dao chặt xương đến nhà ông H, khi gặp nhóm người của ông H đang đứng tại sân nhà của ông Bùi Trọng N tại thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi thì Võ Văn C không hỏi lý do vì sao nhóm người này qua nhà bị cáo mà sử dụng dao chặt xương chém một nhát trúng vào đỉnh đầu của anh Võ Duy S, hậu quả làm anh S thương tích 26%.

Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào vùng đỉnh đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể) của anh S. Hành vi của bị cáo cố ý tước đoạt tính mạng của người khác, anh Võ Duy S chưa chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo về tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Võ Văn C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bãi nại về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; gia đình bị cáo có công Cách mạng, có ông nội của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng nhì, cha của bị cáo được Hội Đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang Hạng 3 và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen; bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình bị cáo hiện nay có hoàn cảnh hết sức khó khăn, vợ bị bệnh, cha mẹ già yếu không có khả năng lao động, đang nuôi 02 con nhỏ còn đang độ tuổi ăn học. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tính mạng người khác, xem thường pháp luật. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung tội phạm. Trong vụ án này, người bị hại chưa chết, nên áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về phần trách nhiệm dân sự: tại Cơ quan điều tra bị cáo Võ Văn C đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho anh Võ Duy S số tiền là 20.000.000 đồng. Anh Võ Duy S đã viết đơn xin bãi nại về phần trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 (một) đoạn cây gỗ hình trụ chữ nhật, kích thước (98x4,8x3,9)cm màu nâu đen; 01 (một) chiếc dép da màu nâu bàn chân trái kích thước (25,5x9,5)cm, lòng gót có in chữ “Hiệu giày Tân Ký”; 01 (một) chiếc dép cao su màu đen bàn chân trái kích thước (26,4x10,5)cm, lòng gót chân có in chữ “Tiến Toàn cao su”; 01 (một) chiếc dép xốp màu xanh, mặt có sọc trắng( cũ) bàn chân phải kích thước (27,3x10,5)cm, bên má ngoài có in chữ nổi “OULUA”; 01 (một) đôi dép da xỏ ngón màu nâu, mỗi chiếc đều có kích thước (26,5 X 10,5) cm, mặt ngoài đai mỗi chiếc dép có in dòng chữ “MAX POLO”; 01 (một) dây bao ni lông dài lm40, cách 0l đầu 0,88m dây được thắt 01 gút; 01(một) dây bao ni lông dài 48cm. Đây là tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050491 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050492 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050493 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050494 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang. Đây là các túi niêm phong có chứa 04 mẫu vật (03 mẫu dịch màu nâu đỏ và 01 mẫu tóc tại hiện trường), các mẫu vật trên đã được trưng cầu giám định, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với những người có liên quan trong vụ án:

Đối với thương tích của Lê Trung T: Quá trình xảy ra xô xát, Võ Văn C dùng dao chém trúng vào cẳng tay trái của ông T, khiến ông T thương tích 3%. Trong quá trình điều tra, ông T có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Võ Văn C và có đơn bãi nại về phần trách nhiệm dân sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi Võ Văn C gây ra thương tích cho ông Lê Trung T là có căn cứ.

Đối với thương tích trên đầu của bị cáo Võ Văn C với tỷ lệ tổn thương cơ thể 2%. Trong quá trình xô xát với nhóm của ông Bùi Trọng H, Võ Văn C bị thương tích 2%, quá trình điều tra do lúc này người đông, tình hình hỗn loạn nên không biết ai gây ra vết thương trên đỉnh đầu của Võ Văn C. Bị cáo Võ Văn C cũng đã có đơn yêu cầu không xử lý, xem xét đối với vết thương trên đỉnh đầu của bị cáo, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi không xem xét là có căn cứ.

Đối với hành vi bị cáo Võ Văn C dùng dao chặt xương chém chết con gà của ông Bùi Trọng H: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã tra cứu tiền án, tiền sự của bị cáo Võ Văn C, xác định bị cáo C không có tiền án, tiền sự. Ông Bùi Trọng H cũng không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu định giá tài sản bị xâm hại. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi đã chuyển phần hồ sơ liên quan đến Công an huyện N tiếp tục xem xét, xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và người bào chữa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Võ Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn C phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Văn C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/9/2021.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây gỗ hình trụ chữ nhật, kích thước (98x4,8x3,9)cm màu nâu đen; 01 (một) chiếc dép da màu nâu bàn chân trái kích thước (25,5x9,5)cm, lòng gót có in chữ “Hiệu giày Tân Ký”; 01 (một) chiếc dép cao su màu đen bàn chân trái kích thước (26,4x10,5)cm, lòng gót chân có in chữ'“Tiến Toàn cao su”; 01 (một) chiếc dép xốp màu xanh, mặt có sọc trắng( cũ) bàn chân phải kích thước (27,3x10,5)cm, bên má ngoài có in chữ nổi “OULUA”; 01 (một) đôi dép da xỏ ngón màu nâu, mỗi chiếc đều có kích thước (26,5 X 10,5) cm, mặt ngoài đai mỗi chiếc dép có in dòng chữ “MAX POLO”; 01 (một) dây bao ni lông dài lm40, cách 0l đầu 0,88m dây được thắt 01 gút; 01(một) dây bao ni lông dài 48cm; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050491 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050492 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050493 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang; 01 (một) túi niêm phong mã số PS2A 050494 còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của Lê Văn Phước, Đinh Quang Lâm, Nguyễn Tấn Tiến, Lương Thượng Quang.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/01/2022 giữa Công an tỉnh Quảng Ngãi và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).

[3] Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Kháng cáo:

Bị cáo; người có quyền lợi, N vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ