vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Kiều Tr phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: bị cáo Lê Thị Kiều Tr 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Kiều Tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Kiều Tr phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 18 - 01- 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước.

Ông Đào Khel.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Thị Kiều Tr, tên gọi khác: không, sinh năm 1993 tại Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp TP, xã TTT, huyện TĐ, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn L và bà Nguyễn Thị L1; chồng: không; con: 01 người sinh năm 2015; tiền án: không (về nhân thân: từng có 03 tiền án, cụ thể: vào ngày 27/6/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 21/02/2013, đã được xóa án tích; vào ngày 26/02/2018 bị Tòa án nhân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 09 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản; vào ngày 29/5/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 07 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản và tổng hợp hình phạt của hai bản án là 01 năm 04 tháng tù, chấp hành xong ngày 23/4/2018, đã được xóa án tích); tiền sự: 01 lần, vào ngày 10/6/2021, bị Ủy ban nhân dân phường C, thành phố ST ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma túy (về nhân thân: vào ngày 20/3/2018 bị Công an thành phố BL ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy); bị cáo bị tạm giữ ngày 10/8/2021 chuyển tạm giam từ ngày 13/8/2021 (có mặt).

- Bị hại: Anh Trần Hải Đ, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khóm H, Phường B, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ, ngày 07 tháng 8 năm 2021, Lê Thị Kiều Tr thuê Nguyễn Văn Ch là người chạy xe ôm chở Tr đi từ giao lộ đường A và đường B, thành phố ST đến nhà trọ HQ, khóm H, phường B, thành phố ST, để tìm bạn của Tr là Trần Quốc Đ. Khi đến nơi, Tr vào gõ cửa phòng của Đ nhưng không thấy Đ trả lời; lúc này, Tr quan sát xung quanh dãy trọ thì phát hiện một chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 83E1-196.63 của Trần Hải Đ đậu trước dãy trọ, không có người trông coi, trên xe còn gắn sẵn chìa khóa, nên Tr nảy sinh ý định trộm cắp. Với ý định đó, Tr tiến lại gần chiếc xe mô tô, lấy nón bảo hiểm đang treo trên xe đội vào đầu, rồi dẫn xe mô tô ra ngoài cổng nhà trọ, Tr leo lên xe, nổ máy điều khiển xe chạy khỏi hiện trường. Sau khi trộm cắp được tài sản, Tr điều khiển xe mô tô qua nhà Phạm Hải Đ1, tại khóm B1, phường T, thành phố ST, để nhờ Đ1 bán xe giùm. Sau đó, Đ1 điện thoại cho một người tên H (không rõ địa chỉ cụ thể) đến mua xe mô tô trên với số tiền 1.500.000 đồng và đưa hết số tiền cho Tr, có được số tiền vừa bán xe Tr tiêu xài cá nhân hết. Khi Trang nhờ Đ1 bán giùm xe mô tô, Tr không có nói xe mô tô là do Tr trộm cắp được mà có. Đối với Đ, sau khi phát hiện bị mất tài sản đã đến Công an trình báo.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐĐG, ngày 12/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave Alpha, màu trắng-đen-bạc, biển số 83E1-196.63, số khung RLHJA390XHY505773, số máy JA39E0480930, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 75%, có giá 10.275.000 đồng và một mũ bảo hiểm màu đen, phía sau có chữ nón sơn, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 75%, có giá 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 10.395.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ một áo khoác màu đen, trước ngực bên trái có một hình tròn màu trắng bao quanh ngôi sao màu đỏ, bên trong ngôi sao có số 76, hai bên tay áo có viền đen – đỏ, có chữ FASHION.

Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra bị hại Trần Hải Đ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa có tiền để bồi thường.

Đối với Phạm Hải Đ1 là người bán tài sản do bị cáo trộm cắp nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý. Đối với người mua tài sản do bị cáo trộm cắp, do không rõ địa chỉ cụ thể nên chưa mời làm việc được, khi nào làm việc được và có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKS-TPST ngày 20/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Thị Kiều Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Lê Thị Kiều Tr và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Lê Thị Kiều Tr phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo Lê Thị Kiều Tr một cái áo khoác màu đen, trước ngực bên trái có một hình tròn màu trắng bao quanh ngôi sao màu đỏ, bên trong ngôi sao có số 76, hai bên tay áo có viền đen – đỏ, có chữ FASHION.

Về trách nhiệm dân sự: Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Trần Hải Đ số tiền 10.000.0000 đồng.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa, đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị hại Trần Hải Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Kiều Tr thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố bị cáo là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể: do cần tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng, vào khoảng 08 giờ, ngày 07 tháng 8 năm 2021 tại nhà trọ HQ, khóm H, phường B, thành phố ST bị cáo phát hiện một xe mô tô biển số 83E1-196.63 và một chiếc mũ bảo hiểm, xe có gắn chìa khóa sẵn đang đậu trước dãy nhà trọ nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt, bị cáo lên xe điều khiển chạy đi, sau đó, bị cáo bán xe được số tiền 1.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp một mình, khi trộm bị cáo không có sử dụng phương tiện, công cụ gì, khi bán xe bị cáo không có nói xe do trộm cắp có được, bị cáo đã nhận được thông báo kết quả định giá tài sản, bị cáo đã biết sai và xin giảm nhẹ hình phạt.

Lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy, bị cáo là người trưởng thành, thể hiện là người bình thường không bị mắc bệnh lý về tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, vào khoảng 08 giờ, ngày 07 tháng 8 năm 2021, bị cáo đã lén lút lấy trộm một xe mô tô biển số 83E1-196.63 và một chiếc mũ bảo hiểm, có tổng giá trị là 10.395.000 đồng của anh Trần Hải Đ, tại nhà trọ HQ, khóm H, phường B, thành phố ST. Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, là hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Tội Trộm cắp tài sản.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo từng có nhiều tiền án và tiền sự như nêu tại phần lý lịch, mặc dù đã được xóa án tích nhưng xét về nhân thân là người có nhân thân xấu nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù là phù hợp.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản khác có liên quan:

Trong quá trình điều tra đã thu giữ: một cái áo khoác màu đen, trước ngực bên trái có một hình tròn màu trắng bao quanh ngôi sao màu đỏ, bên trong ngôi sao có số 76, hai bên tay áo có viền đen – đỏ, có chữ FASHION đây là tài sản của bị cáo không phải là vật chứng vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trong quá trình điều tra, bị hại Trần Hải Đ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Trần Hải Đ số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và đề nghị mức hình phạt, áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 48, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Lê Thị Kiều Tr phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Xử phạt: bị cáo Lê Thị Kiều Tr 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo Lê Thị Kiều Tr: một cái áo khoác màu đen, trước ngực bên trái có một hình tròn màu trắng bao quanh ngôi sao màu đỏ, bên trong ngôi sao có số 76, hai bên tay áo có viền đen – đỏ, có chữ FASHION.

(Vật chứng nêu trên đang được quản lý tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/10/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng).

4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Trong quá trình điều tra, bị hại Trần Hải Đ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Trần Hải Đ số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người bị thi hành án còn phải trả lãi cho người có quyền thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thị Kiều Tr phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 (năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ