- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2022/HS - ST Ngày 29/3/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HY, TỈNH HY
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khuê
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Thùy Đông
Bà Nguyễn Thị Bích Thu
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố HY, tỉnh HY.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến - Kiểm sát viên;
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HY, tỉnh HY xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST - HS ngày 11 tháng 02 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2022.
Đối với bị cáo: PHẠM VĂN K - SN 1971.
Sinh trú quán: Thôn Kim Đ, phường Lam S, thành phố HY, tỉnh HY; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn H, sinh năm 1938; Con bà: Phạm Thị O, sinh năm 1942; Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1976 (đã ly hôn); Con: Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 18/3/1998 K bị TAND tối cao xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự.
+ Ngày 27/6/2005 K bị TAND thị xã HY xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/12/2010 K đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
+ Ngày 21/12/2007 K bị TAND huyện TL, tỉnh HY xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 29/01/2008 K đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
+ Ngày 17/6/2010 bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tại T tâm chữa bệnh, giáo dục – lao động xã hội tỉnh HY sau đó được tạm đình chỉ để xử lý theo vụ án hình sự.
+ Ngày 29/9/2010 K bị TAND - thành phố HY xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 09/02/2013 K đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí.
+ Ngày 19/5/2016 K bị Công an thành phố HY xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
+ Ngày 16/01/2018, TAND TP. HY xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/01/2019 K đã chấp hành xong hình phạt tù đến ngày 26/4/2021 K đã nộp xong 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/11/2021, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh HY. (có mặt).
Bị hại: Công ty cổ phần xây dựng đô thị SH, địa chỉ số 70 AD, phường YP, quận TH, thành phố HN. Đại diện bị hại anh Vũ Văn Đ – SN 1991, HKTT: Thôn T, thị trấn Bích Đ, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G. Chỗ ở: Đường Đinh Đ, phường Lam S, thành phố HY, tỉnh HY. (vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Văn K– SN 1976 hiện đang chấp hành án tại phân trại 1, Trại giam Hoàng Tiến. (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 1986; Thường trú: Thôn CX, thị trấn Trần C, huyện Phù C, tỉnh HY. (vắng mặt).
- Anh Đỗ Ngọc H, sinh năm 1988; Thường Trú: Xã Lâm T, huyện Lương T, tỉnh Bắc N. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 18/11/2021, Phạm Văn K, sinh năm 1971, trú tại: Thôn Kim Đ, phường Lam S, thành phố HY, điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, nhãn hiệu DETECH, màu đỏ, không gắn BKS đi loanh quanh trong khu vực phường Lam S, thành phố HY với mục đích xem có ai sơ hở trong việc quản lý tài sản sẽ trộm cắp bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Khi đi đến khu vực đường Đinh Đ, phường Lam S, thành phố HY, K quan sát thấy trụ sở của tập đoàn Bưu chính viễn thông VN(VNPT) - Chi nhánh HY đang xây dựng, K liền dựng xe máy tại bãi đất trống cạnh với công trình xây dựng rồi ngồi quan sát. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, K quan sát không thấy ai trông coi, quản lý tài sản và trong bãi đất trống có một chiếc thang tre đã cũ, K đi đến dựng chiếc thang lên bờ tường phía Tây của công trình, rồi dùng thang trèo qua bờ tường vào phía bên trong khuôn viên của công trình xây dựng. Tại đây K thấy có một đống thép hộp dài từ 03m đến 06m để cách bờ tường chỗ K trèo vào là 14,7m, K đi đến dùng tay bê 10 thanh thép hộp dài 06 m ra dựng ở bờ tường chỗ K đã trèo vào. Sau đó K đang định mang 10 thanh thép hộp ra ngoài thì bị anh Vũ Văn Đvà các công nhân trông coi công trình xây dựng phát hiện, truy hô, bắt giữ K lại và trình báo cho Công an phường Lam S, thành phố HY đến làm việc.
Vật chứng vụ án: 10 thanh thép hộp nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng. Mỗi thanh thép có trọng lượng 15,5 kg. Tổng 10 thanh thép có trọng lượng là 155 kg; 01 thang tre có chiều dài 3,06m, điểm rộng nhất 0,47m, điểm hẹp nhất 0,24m, đã qua sử dụng; 01 xe máy kiểu dáng Wave nhãn hiệu DETECH, màu đỏ, không gắn BKS, số máy: VDEJQ152FMH027802, số khung RPEWCH1PE84027802, đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản kèm theo biên bản định giá tài sản số 60 ngày 22/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố HY, kết luận: 10 thanh thép nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng. Tổng 10 thanh thép có trọng lượng là 155 kg trị giá là 4.634.500 đồng.
Tại bản cáo trạng số 07/CT - VKSTL ngày 10/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY đã truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Phạm Văn K sức khỏe bình thường, bị cáo tỉnh táo, đủ minh mẫn sáng suốt để trả lời câu hỏi của HĐXX. Bị cáo nhận tội, khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
Đại diện bị hại anh Vũ Văn Đ – SN 1991, HKTT thôn T, thị trấn Bích Đ, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G. Chỗ ở: Đường Đinh Đ, phường Lam S, thành phố HY, tỉnh HY vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên trong tại giai đoạn điều tra anh Vũ Văn Đ đã nhận lại 10 thanh thép nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng và không có yêu cầu đề nghị gì khác về phần bồi thường dân sự, về hành vi của bị cáo anh đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào nhân thân, trị giá tài sản bị cáo phạm tội, đề nghị của bị hại: đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 29/11/2021. Bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/11/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố HY đã trả lại cho đại diện chủ sở hữu là anh: Vũ Văn Đ10 thanh thép nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46; khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với 01 xe máy kiểu dáng Wave nhãn hiệu Detech, màu đỏ, không gắn BKS, số máy: VDEJQ152FMH 027802, số khung RPEWCH1PE 84027802 anh K mua năm 2020 nhưng chưa làm thủ tục Đ ký. Anh K có cho K (là anh trai) mượn chiếc xe trên để đi lại. Anh K không biết anh K sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên đề nghị trả lại cho anh K. Tịch thu cho tiêu hủy 01 thang tre có chiều dài 3,06m, điểm rộng nhất 0,47m, điểm hẹp nhất 0,24m, đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố HY, tỉnh HY; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 19/11/2021 (bút lục 39); Bản kết luận định giá tài sản số: 60/KL - HĐĐGTS ngày 22/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố HY (bút lục 32); Phù hợp với lời khai của đại diện bị hại anh Vũ Văn Đ; những người làm chứng anh Vũ Văn T; anh Đỗ Ngọc H (bút lục 70 - 75; 76 - 80; 82). Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18/11/2021 tại: Công trường xây dựng Tập đoàn Bưu chính viễn thông VN(VNPT) - Chi nhánh HY, địa chỉ: Đường Đinh Đ, phường Lam S, thành phố HY, bị cáo Phạm Văn K có hành vi trộm cắp 10 thanh thép hẹp nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng, có tổng trọng lượng: 155 kg, trị giá là: 4.634.500 đồng của Công ty cổ phần xây dựng đô thị SH.
Bị cáo Phạm Văn K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn K không có công việc ổn định, bản thân lại nghiện ma túy đây là một trong những nguyên dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 18/3/1998 K bị TAND tối cao xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù và đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự vào ngày 31/8/1998 và ngày 25/9/2000. Đối với việc bị cáo K phải liên đới bồi thường cho chị Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1969, trú tại CX, Lam S, TP HY và chị Trần Thị Thương sinh năm 1975, trú tại: Đằng G, MK, TP HY số tiền 2.376.000 đồng, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật chị L và chị T đều không làm đơn yêu cầu thi hành án đối với K. Căn cứ Điều 30 Luật thi hành án dân sự thì thời hiệu yêu cầu thi hành án của chị L và chị T đã hết. Ngày 27/6/2005 K bị TAND thị xã HY xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài” sản và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/12/2010 K đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 21/12/2007 K bị TAND huyện TL, tỉnh HY xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo K đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 29/01/2008 K đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 17/6/2010 bị cáo K bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, giáo dục theo Quyết định số 422/QĐ – CT ngày 17/6/2010 của Chủ tịch UBND thành phố HY “V/v Chữa bệnh, giáo dục, lao động xã hội tỉnh HY” do bị cáo có hành vi nghiện ma túy. Ngày 29/9/2010 K bị TAND - thành phố HY xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 09/02/2013 K đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23/5/2011 K đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/5/2016 K bị Công an – thành phố HY xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/01/2018, Tòa án nhân dân thành phố HY xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/01/2019 K đã chấp hành xong hình phạt tù, ngày 26/4/2021 K đã nộp xong 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Mặc dù bị cáo đã nhiều lần được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cảm hóa, giáo dục nhưng bị cáo K vẫn không có sự thay đổi, không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục hành vi phạm tội, bị cáo lợi dụng đêm tối, lén lút trộm cắp tài sản của người khác nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu sai cá nhân. Hành vi nêu trên của Phạm Văn K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho người dân. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, dành cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, H quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo K thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Bị cáo K có bố đẻ là ông Phạm Văn H, ngày 14/12/1975 ông H được Chính Phủ tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng; Ngày 11/4/2001 ông H được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Phạm Thị O, ngày 11/4/2001 bà O được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Phạm Văn K ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Phạm Văn K, không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 29/11/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố HY đã trả lại cho đại diện chủ sở hữu là anh: Vũ Văn Đ10 thanh thép hẹp nhãn hiệu Tấn Phát loại 50mm x 50mm x 1,8mm, chiều dài 6m, chưa qua sử dụng. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Phạm Văn Kkhi cho K mượn xe mô tô kiểu dáng Wave nhãn hiệu DETECH, màu đỏ, không gắn BKS, số máy: VDEJQ152FMH 027802, số khung RPEWCH1PE 84027802. Ngày 26/11/2021 Công an thành phố HY ra Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng xác định được: số máy: VDEJQ152FMH 027802, số khung RPEWCH1PE 84027802 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Anh K hiện đang chấp hành án phạt tù tại phân trại 1 Trại giam Hoàng Tiến, anh K không biết K sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý đối với anh K.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Đối với 01 xe máy kiểu dáng Wave nhãn hiệu Detech, màu đỏ, không gắn BKS, số máy: VDEJQ152FMH 027802, số khung RPEWCH1PE 84027802 anh Phạm Văn Ksinh năm1976, HKTT: thôn Kim Đ, phường Lam S, thành phố HY, tỉnh HY (đang chấp hành án tại phân trại 1 trại giam Hoàng Tiến) mua năm 2020 nhưng chưa làm thủ tục Đ ký. Anh K có cho K (là anh trai) mượn chiếc xe trên để đi lại. Anh K không biết anh K sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho anh K.
+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 thang tre có chiều dài 3,06m, điểm rộng nhất 0,47m, điểm hẹp nhất 0,24m, đã qua sử dụng do liên quan tới hành vi phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về h nh phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K: 01(một) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/11/2021.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Trả lại cho anh Phạm Văn K sinh năm 1976, HKTT: thôn Kim Đ, phường Lam S, thành phố HY, tỉnh HY (hiện nay đang chấp hành án tại phân trại 1 Trại giam Hoàng Tiến) 01 xe máy kiểu dáng Wave nhãn hiệu Detech, màu đỏ, không gắn BKS, số máy: VDEJQ152FMH 027802, số khung RPEWCH1PE 84027802.
+ Tịch thu cho tiêu hủy 01 thang tre có chiều dài 3,06m, điểm rộng nhất 0,47m, điểm hẹp nhất 0,24m, đã qua sử dụng.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ – VKS ngày 10 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HY, tỉnh HY).
5. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng NV&THA TAND tỉnh; - VKSND TP HY; - Chi cục THADS TP HY; - CQCSĐT Công an TP HY; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đăng Khuê |