- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn S CĐP - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo L Văn S, Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? luật Tố t ng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QU NG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án số 10 /2022/HS-ST Ngà 24/01/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH U NG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiên Nga.
+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nam và ông Lưu Xuân Giới.
- Th ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều t nh u ng Ninh
- Đại di n Vi n ki m sát nhân dân thị xã Đông triều, t nh Qu ng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn - i m sát vi n
Ngà 24 tháng 01 năm 2022, tại tr s Toà án nhân dân thị xã Đông Triều công khai xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số: 131/2021/HSST ngày 19/11/2021 theo Quyết định đưa v án ra xét xử sơ thẩm số: 142/2021/ ĐXXST-HS ngày 17/12/2021, quyết định hoãn phiên tòa số 76/2021/HSST- Đ ngày 31/12/2021 đối với các ị cáo:
1. Lê Văn S; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 25/9/1989 tại thị xã Đ, t nh Q; Nơi thường trú: Khu M phường H, thị xã Đ, t nh Q. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông L Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; Có vợ là Nguyễn Kim C (đã l hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2010 nhỏ sinh năm 2011. Tiền án: Ngày 22/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố H i Dương t nh H i Dương xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” đến ngày 20/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” ngà 11/12/2020 chấp hành xong hình phạt tù tr về địa phương Tiền sự: Ngày 24/8/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc (hiện chưa thi hành u ết định). Nhân thân: 02 lần đi cai nghiện bắt buộc năm 2015 đến năm 2017 và năm 2018 đến năm 2019
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 09/9/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Qu ng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 29/9/1992 tại thị xã Đ, t nh Q; Nơi cư trú: hu G phường K, thị xã Đ, t nh Q. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị M (đã chết); Chưa có vợ, con. Tiền án: Năm 2017 ị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ” ngà 04/10/2018 chấp hành xong hình phạt tù tr về địa phương. Tiền sự: Không. Nhân thân: + 02 lần đi cai nghiện bắt buộc năm 2010 đến năm 2012 và năm 2012 đến năm 2014 + Ngày 16/01/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Trộm cắp tài s n” thời gian thử thách 18 tháng.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 09/9/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Qu ng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại:
- Chị Trần Thị Ngọc B sinh năm 1976. Địa ch : Khu T phường H, thị xã Đ, t nh Q. Vắng mặt ( có đơn xin xét xử vắng mặt )
*Ng ời làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị O sinh năm 1979; Địa ch : Khu T phường H, thị xã Đ, t nh Q. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Kho ng 14 giờ 30 phút ngày 09/9/2021, sau khi cùng nhau đi mua ma tú và sử d ng, Nguyễn Văn T điều khi n xe mô tô Honda Wave, bi n ki m soát 14P2-2359 ch L Văn S từ khu vực cầu Triều thuộc phường Hồng Phong, thị xã Đông Triều, t nh Qu ng Ninh đi về phía nhà S phường H, thị xã Đ, trên đường về đến khu vực đường đ thuộc khu Thủ Dương phường Hưng Đạo thấy chiếc xe mô tô Honda Wave, bi n ki m soát 14K3-8760, số máy HC09E-0042784, số khung HC0913Y04288 (là xe của gia đình chị Trần Thị Ngọc B, trú tại khu T phường H) đang dựng rìa bờ đ S n sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên nên b o T dừng xe đứng c nh giới đ S trộm cắp xe, T đồng ý và dừng xe đ S xuống. Sau khi quan sát thấ xung quanh không có người khác nên S đi đến chiếc xe máy cày (của gia đình chị B) đỗ gần đó thấy trên thùng máy cày có chiếc tua vít nên S lấy chiếc tua vit vặn m ổ khóa điện chiếc xe mô tô của chị Bích và đề nổ điều khi n xe về nhà S, T điều khi n xe của S đi sau Về đến nhà S dùng tuavit, bút thử điện và chiếc kéo cùng T tháo yếm gương và i n ki m soát của xe vừa trộm cắp, sau đó S đem i n ki m soát và 02 gương vứt xuống sông đoạn cầu Cầm thuộc khu Mễ Xá 3 phường Hưng Đạo Đến 16 giờ cùng ngày, S và T thống nhất đem chiếc xe tr n đi án khi c hai vừa ra đến cổng nhà thì bị Công an ki m tra bắt giữ và thu giữ vật chứng gồm: Xe mô tô Honda Wave, không có bi n ki m soát, số máy HC09E-0042784, số khung HC09013Y04288 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, bi n ki m soát 14P2-2359, số máy VCRPCH0032R*001495, số khung CR110FMH*2001495.
Khám xét khẩn cấp tại nhà S cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc tuavit, chiều dài 20cm, cán bằng nhựa, màu trắng đỏ; hai yếm xe mô tô màu xanh; một chiếc kéo và một chiếc bút thử điện.
Tại b n kết luận định giá tài s n số 48/KL-HĐĐGTS ngà 13/9/2021 của Hội đồng định giá tài s n trong Tố t ng hình sự thị xã Đông Triều, kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S xanh, số máy HC09E-0042784, số khung HC09013Y04288, không gắn bi n ki m soát đã qua sử d ng có giá 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng.
uá trình điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
B n cáo trạng số 133/CT-VKS - ĐT ngà 17/11/2021 của Viện ki m sát nhân dân thị xã Đông Triều, t nh Qu ng Ninh đã tru tố các bị cáo L Văn S, Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện ki m sát giữ quyền công tố tại phi n tòa giữ ngu n quan đi m đã tru tố ị cáo như cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
- p d ng: Kho n 1 Điều 173; đi m s kho n 1 Điều 51; đi m h kho n 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt ị cáo L Văn S từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” thời hạn tù tính từ ngà ắt 09/9/2021; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” thời hạn tù tính từ ngà ắt 09/9/2021.
- p d ng: Đi m a kho n 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m c kho n 2 Điều 106 bộ luật Tố t ng Hình sự đề nghị: Tịch thu ti u hủ 01 tuavit, 01 chiếc kéo và 01 chiếc bút thử điện.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện ki m sát. Các bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa ị cáo ra xét xử là đúng người đúng tội, không oan sai đề nghị Hội đồng xét xử gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấ như sau:
Về hành vi, quyết định, tài liệu, chứng cứ, của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, của Điều tra viên, của Viện Ki m sát nhân dân thị xã Đông Triều, của Ki m sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c qu định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tài liệu chứng cứ của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi qu ết định tố t ng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập sử d ng tại phiên tòa của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với các bị cáo:
- Tại phiên tòa các bị cáo L Văn S và Nguyễn Văn T khai nhận: Ngày 09/9/2021, sau khi sử d ng ma túy, L Văn S và Nguyễn Văn T cùng nhau đi về nhà S hi đi đến đoạn đường đ thuộc khu Thủ Dương phường Hưng Đạo, thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S xanh, bi n ki m soát 14K3-8760 không ai trông giữ, S và T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe trên.
Người bị hại chị Trần Thị Ngọc B và người làm chứng chị Nguyễn Thị O vắng mặt nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: Kho ng 14 giờ ngày 09/9/2021, chị Bích có dựng xe mô tô bi n ki m soát 14K3-8760 cạnh thùng công nông và xuống chòi trồng sen cách vị trí dựng xe kho ng 200m. Sau 30 phút, chị đi l n đ lấy xe thì không thấ xe đâu khi đó chị được chị Nguyễn Thị O cho biết là có thấy hai nam thanh niên, mặc áo đen đi chiếc xe Honda Wave, màu S xanh đỗ cạnh thùng xe công nông tr n đường đ . Chị B đã trình áo sự việc trên với cơ quan công an. uá trình điều tra, chị B đã được nhận lại tài s n và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại người làm chứng, vật chứng thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án, hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:
Kho ng 14 giờ 30 phút, ngày 09/9/2021, tại khu vực đường đ thuộc khu Thủ Dương phường Hưng Đạo, L Văn S và Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu S xanh, bi n ki m soát 14K3-8760 trị giá 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng của chị Trần Thị Ngọc B. Khi S và T đem tài s n đi ti u th thì bị lực lượng công an ki m tra bắt giữ, thu giữ vật chứng.
Vì vậy cáo trạng của Viện Ki m sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo L Văn S và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” qu định tại kho n 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người đúng tội.
Về hình phạt:
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Ng ời nào trộm cắp tài s n của ng ời khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến d ới 50.000.000 đồng hoặc d ới 2.000.000 đồng nh ng thuộc một trong các tr ờng hợp sau đây, thì bị phạt c i tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hi m cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền s hữu về tài s n của công dân được pháp luật b o vệ, gây nh hư ng xấu đến tình hình an ninh trật tự. Các bị cáo là những người đã trư ng thành, nhận thức đầ đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng với b n chất lười lao động thích hư ng th trên thành qu lao động của người khác, lợi d ng s h của bị hại đ trộm cắp tài s n, điều này th hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo, nên cần ph i xét xử nghiêm minh, nhằm răn đe giáo d c, c i tạo các bị cáo.
Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đâ là v án mang tính đồng phạm gi n đơn không có sự tổ chức, phân công vai trò. Tuy nhiên bị cáo S là người kh i xướng, trực tiếp hành động trộm cắp xe, bị cáo T là người giúp sức tích cực cho bị cáo S, c nh giới cho bị cáo S trộm cắp tài s n nên bị cáo T có vai trò sau bị cáo S.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Ngày 22/8/2019, L Văn S bị Tòa án nhân dân thành phố H i Dương t nh H i Dương xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” đến ngày 20/9/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” ngà 11/12/2020 chấp hành xong hình phạt tù tr về địa phương Ngà 24/8/2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc (hiện chưa thi hành u ết định).
Năm 2009, Bị cáo T bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Trộm cắp tài s n” thời gian thử thách 18 tháng. Năm 2017 Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tú ” ngà 04/10/2018 chấp hành xong hình phạt tù tr về địa phương ( chưa chấp hành xong phần dân sự).
Các bị cáo đều có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu đã nhiều lần vi phạm pháp luật, chưa được xóa án tích lại cố ý phạm tội mới, th hiện sự coi thường pháp luật, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” n n ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qu định tại Đi m h Kho n 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối c i người bị hại đề nghị gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hư ng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo qu định tại đi m s kho n 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vai trò tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX thấy rằng cần bắt các bị cáo ph i cách ly khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đ m b o tính giáo d c riêng và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Theo qu định tại kho n 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có th bị phạt tiền từ 5 000 000 đồng đến 50 000 000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài s n riêng, nên không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã được nhận lại tài s n, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 ( một ) chiếc tuavit, 01 ( một ) chiếc kéo, 01 (một) chiếc bút thử điện không còn giá trị sử d ng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, bi n ki m soát 14P2-2359, số máy VCRPCH0032R*001495, số khung CR110FMH*2001495 các bị cáo sử d ng khi phạm tội, L Văn S khai mua của người không quen biết, không có giấy tờ xe do chưa xác định được thông tin đăng ký đối với chiếc xe có số khung, số má n u tr n n n cơ quan điều tra tiếp t c xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo b n án theo qu định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: ho n 1 Điều 173; đi m s kho n 1 Điều 51; đi m h kho n 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự
2. Tuyên bố: Các bị cáo L Văn S, Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
3. Xử phạt: L Văn S 18 ( mười tám) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà ị bắt 09/9/2021.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 15 ( Mười lăm ) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà ị bắt 09/9/2021.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ; Đi m a kho n 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; đi m c kho n 2 Điều 106 bộ luật Tố t ng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) chiếc tuavit, 01 ( một ) chiếc kéo, 01 (một) chiếc bút thử điện.
(Số vật chứng, tài s n trên có tình trạng và đặc đi m nh Biên b n giao nhận vật chứng số 25 ngày 18 tháng 11 năm 2021 giữa Cơ quan C nh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, t nh Qu ng Ninh).
5. Về án phí: Áp d ng Kho n 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; đi m a kho n 1 Điều 23; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ an thường v Quốc hội qu định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử d ng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo L Văn S, Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo ph i nộp Ngân sách Nhà nước 200 000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. p d ng: Điều 331; kho n 1 Điều 333 của Bộ luật tố t ng hình các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, k từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ nhận được b n án hoặc k từ ngày b n án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - TAND t nh Qu ng Ninh; - Viện ki m sát ND-TX Đông Triều; - C THAHS Công an TX Đông Triều - Công an TX Đông Triều; - Chi c c THA DS TX Đông Triều - S Tư pháp t nh Qu ng Ninh. - Lưu hồ sơ VP / HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Thiên Nga THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thiên Nga |