vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tâm A 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Về vật chứng: p dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tâm A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
HUYỆN N
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 28 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Thành

2. Ông Đỗ Trọng Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2022/TLST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tâm A, sinh ngày 10/8/2004 tại huyện N, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: làm vuông; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng Sơn, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Nhung Ch, sinh năm 1973; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần bị Công an xã Viên An ra Quyết định số 48/QĐ-XPHC ngày 09/11/2020 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại triệu tập có mặt tại phiên tòa.

Người giám hộ cho bị cáo là chị Nguyễn Nhung Ch, sinh năm 1973 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị hại:

1. Bà Trịnh Kim L, Sinh năm 1957 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau.

2. Bà Nguyễn Thị Th, Sinh năm 1943 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tâm A: Ông Trần Hoàng Út là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 03/6/2021 Nguyễn Tâm A đi từ nhà sang nằm võng ở chòi của bà Nguyễn Thị Th thuộc ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau. Lúc này nhà bà Th còn thức, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bà Th đóng cửa nhà tắt đèn đi ngủ. Tâm A biết nhà bà Th có sàn nhà bằng ván gỗ không có đóng đinh cố định có thể di chuyển ván gỗ nên nảy sinh ý định lén lút vào nhà để trộm điện thoại bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này Tâm A quan sát không thấy ai nên đi theo đường vách nhà bà Th phía bên phải, đi đến khu vực buồng thì chui xuống sàn nhà dùng tay kéo ván gỗ ra leo lên nhà bà Th. Tâm A đi đến giường ngủ của bà Th thì thấy bà Th đang ngủ trong mùng, mặt quay vào phía bên trong, điện thoại thì đang mở cải lương để phía trong gần vách nhà nên Tâm A không lấy điện thoại sợ bị phát hiện. Sau đó Tâm A nhìn thấy gần đầu giường có để 01 cái khay kim loại trong đó có cái bóp da màu đen, Tâm A vén mùng lên đưa tay lấy cái bóp đi vào đứng trong buồng lấy hết tiền và bỏ cái bóp lại, sau đó chui xuống sàn nhà kéo ván gỗ lại và đi ra ngoài. Khi về đến nhà kiểm tra lại số tiền trộm được là 11.240.000 đồng. Tâm A lấy tiền mua 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Star 5 màu xanh, 01 máy tính bảng màu trắng, 01 cái bóp da, 02 sợi dây chuyền bằng Inox và tiêu xài cá nhân còn lại được 5.160.000 đồng (BL: 141, 142). Bà Th phát hiện Tâm A lấy tiền của bà nên báo Công an xã Viên An (BL: 110, 111).

Qua điều tra xác định Nguyễn Tâm A có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản bị Công an xã Viên An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48/QĐ-XPHC ngày 09/11/2020 với số tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành.

Ngoài ra, ngày 12/9/2021 Tâm A đi đến nhà bà Trịnh Kim L trú cùng ấp để làm thuê. Khi đang ngồi uống nước ở nhà bà L thì thấy cháu bà L đang cầm điện thoại Samsung Galaxy J4+ xem trước cửa nhà, sau đó cháu bà L bỏ điện thoại lại và đi vào trong nhà. Thấy không có ai nên Tâm A lấy điện thoại của bà L rồi đi về nhà (BL: 144, 145). Khi phát hiện mất điện thoại bà L nghi ngờ Tâm A lấy nên báo Công an xã Viên An (BL: 122, 123).

Tại Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 136/ĐT ngày 20/12/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế TP.Cần Thơ kết luận: qua kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng, sự phát triển thể chất của cơ thể, sự mọc răng và điểm cốt hóa của các đầu xương chưa liền hoàn toàn vào thân xương, xác định Nguyễn Tâm A có độ tuổi từ 17 tuổi 03 tháng đến 17 tuổi 09 tháng (tại thời điểm giám định 16/12/2021).

Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐ ngày 28/9/2021 của Hội đồng định giá huyện N, tỉnh Cà Mau kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+, màu vàng, số IMEL khe 1: 351590102430415, số IMEL khe 2: 351591102430413; 01 sim điện thoại Vinaphone 0854.488.949; 01 sim điện thoại Vinaphone 0913.513.744, tổng trị giá tài sản là 1.346.000 đồng.

Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 máy tính bảng hiệu Tab-7S, màu trắng có bao da; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Star 5 màu xanh, IMEL (sim 1) 35887980048051, IMEL (sim 2) 358877980048069; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX) có mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX), trên mặt dây chuyền có hình nữa trái tim, có chữ LOVE, CK, VK. Hiện vật chứng đang quản lý tại kho vật chứng của Công an huyện N.

Cơ quan điều tra đã trả lại cho hại: tiền VNĐ 5.160.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+, màu vàng đồng, 01 sim điện thoại Vinaphone 0854.488.949; 01 sim điện thoại Vinaphone 0913.513.744.

* Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị can đã khắc phục đầy đủ cho các bị hại, bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Qua điều tra, Công an đã mời và làm việc, bị cáo Tâm A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tâm A trình bày: Vào các ngày 03/6/2021 bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 11.240.000 đồng của bà Nguyễn Thị Th trú ấp So Đũa, xã Viên An, huyện N, tỉnh Cà Mau. Đến ngày 12/9/2021 tiếp tục lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+ của bà Trịnh Kim L trú cùng ấp trị giá 1.346.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại các lời khai có tại hồ sơ vụ án, bà Lê Thị Th trình bày: Vào ngày 03/6/2021 trong lúc bà đang ngủ say nên bị cáo Tâm A lấy trộm số tiền của bà số tiền 11.240.000 đồng, sau đó bà có trình báo chính quyền địa phương, hiện nay bà Th đã nhận lại đủ tiền và không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại các lời khai có tại hồ sơ vụ án, bà Trịnh Kim L trình bày: Ngày 12/9/2021 bị cáo Tâm A lén lút lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+ của bà L trị giá 1.346.000 đồng để tiêu xài cá nhân.

Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS, ngày 08 tháng 03 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố Nguyễn Tâm A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố đã kết luận và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Hình phạt: p dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 04 tháng tù đến 06 tháng tù.

Về vật chứng và án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.

- Ông Trần Hoàng Út bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tâm A, phát biểu: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tâm A là ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường tiền cho bị hại và đã được bị hại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Lúc phạm tội thì bị cáo Tâm A là người chưa đủ 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật về nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Qua chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa đã xác định hành vi của bị cáo như sau: Vào ngày 03/6/2021bị cáo Tâm A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 11.240.000 đồng của bà Nguyễn Thị Th. Đến ngày 12/9/2021 tiếp tục lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J4+ của bà Trịnh Kim L trị giá 1.346.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Tâm A chiếm đoạt là 12.586.000 đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Như vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Tâm A về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người quản lý tài sản được pháp luật bảo vệ. Trong khi bị cáo đã có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, dân sự và hoàn toàn nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt nghiêm để tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên, bị cáo đã có 01 tiền sự chưa được xóa nhưng vẫn tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình và các tình tiết có liên quan đến vụ án; bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình đã thực hiện; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5 Trách nhiệm dân sự: Bị hại không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6 Về xử lý vật chứng: 01 máy tính bảng hiệu Tab-7S, màu trắng có bao da; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Star 5 màu xanh, IMEL (sim 1) 35887980048051, IMEL (sim 2) 358877980048069; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX) có mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX), trên mặt dây chuyền có hình nữa trái tim, có chữ LOVE, CK, VK. Xét thấy không có liên quan đến hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là có cơ sở.

[7 Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

8 Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và phát biểu của người bào chữa tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[9 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 90, 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tâm A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tâm A 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng: p dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho Nguyễn Tâm A 01 máy tính bảng hiệu Tab-7S, màu trắng có bao da; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Star 5 màu xanh, IMEL (sim 1) 35887980048051, IMEL (sim 2) 358877980048069; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX) có mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng (INOX), trên mặt dây chuyền có hình nữa trái tim, có chữ LOVE, CK, VK. (Theo phiếu nhập kho ngày 11/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tâm A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

n xử sơ thẩm công khai, những người có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ