vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Phú Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Phú Q 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2021. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Phú Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 31-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Minh Quang

Bà Tạ Huyền Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Cảnh - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất:

Họ và tên: Lê Phú Q; sinh ngày 04/4/1996; nơi cư trú: Khóm C, thị t, huyện N, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đấu và bà: Lê Thị Tuyết M; chưa có vợ, con.

Tiền sự: 02 lần. Lần thứ nhất: Ngày 22/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Năm Căn ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 12/3/2020. Lần thứ hai: Ngày 10/8/2020 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Năm Căn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, chưa thực hiện nộp phạt.

Tiền án: Không.

Tạm giữ từ ngày 11/12/2021, tạm giam ngày 17/12/2021 đến nay.

Bị cáo thứ hai:

Họ và tên: Trần Văn T; sinh ngày 10/02/2000; nơi cư trú: Khóm C, thị t, huyện N, tỉnh C .; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn Bí và bà: Nguyễn Thị Thủy; chưa có vợ, con.

Tiền sự: Ngày 29/9/2020 bị Công an thị trấn Năm Căn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, chưa thực hiện nộp phạt.

Tiền án: Không.

Tạm giữ từ ngày 11/12/2021, tạm giam ngày 17/12/2021 đến nay.

Hai bị cáo bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Đặng Văn N, sinh năm 1985 (xin vắng).

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, thành phố C ..

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Tuyết M, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khóm C, thị t, huyện N, tỉnh C . (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Cung, Lê Phú Q, Trần Văn Mẫn và Trần Văn T làm nghề bốc vác chung nhóm tại Bến tàu xe Năm Căn. Vào ngày 02/12/2020, giữa Quý với Đặng Văn N (phụ xe cho nhà xe Tuấn Hiệp) có xảy ra mâu thuẫn với nhau về việc giao nhận hàng hóa. Quý kể sự việc cho Cung nghe nên Cung đến gặp Nhật nói chuyện thì xảy ra cự cãi, Cung bỏ đi.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cung rủ Mẫn đi tìm Nhật để nói chuyện. Lúc này Quý biết Cung và Mẫn tìm Nhật nên Quý cũng chạy lấy 01 cây gậy bóng chày màu đen dài khoảng 70cm ở gần đó đến chỗ Nhật đang ngồi.

Cung và Mẫn đến nhà xe Tuấn Hiệp thì gặp Nhật đang ngồi trước phòng vé. Cung và Nhật xảy ra cự cải nên Cung xông vào dùng tay, chân đánh Nhật; Mẫn cũng xông vào dùng tay chân đánh Nhật. Nhật bỏ chạy thì Quý cầm cây gậy bóng chày đánh trúng vào đầu một cái làm Nhật bất tỉnh ngã xuống nền gạch. Lúc này, Cung xông vào dùng chân và tay đánh vào người Nhật nhiều cái. Quý cầm gậy bóng chày tiếp tục đánh vào người Nhật 02 cái. Thấy Cung, Quý và Mẫn đánh Nhật thì Tý cũng xông đến dùng chân đá vào bụng của Nhật hai cái và cầm cây dao dài khoảng 20cm xông vào định đâm Nhật thì được Cung can ngăn.

Thấy Nhật nằm bất động nên người dân đến can ngăn và đưa Nhật đến Bệnh viện điều trị thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 03/TgT-21 ngày 31/12/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tích của ông Đặng Văn N như sau:

- 01 vết thay đổi sắc tố da vùng trán dưới chân tóc, kích thước 03cm x 01cm. Không xếp tỷ lệ %;

- 01 vết sạm da vùng thái dương phải, kích thước 2,5cm x 1,8cm. Căn cứ nguyên tắc 2, Mục V, Chương 8, Bảng 1 Thông tư 22/2019/TT-BYT. Tỷ lệ 1,5%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;

- Nứt sọ thái dương phải. Căn cứ Điểm 2.1, khoản 2, Mục I, Chương I, Bảng 1 Thông tư 22/2019/TT-BYT. Tỷ lệ 09%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;

- Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải. Hiện tại còn tụ máu lớp mỏng dưới màng cứng vùng thái dương đỉnh phải. Căn cứ khoản 7, Mục III, Chương I, Bảng 1 Thông tư 22/2019/TT-BYT. Tỷ lệ 16%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;

- Gãy cung gò má phải. Căn cứ khoản 2, Mục I, Chương 11, Bảng 1 Thông tư 22/2019/TT-BYT. Tỷ lệ 10%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra;

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế là: 32% (Ba mươi hai phần trăm).

Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố bị cáo Lê Phú Q và Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Quý từ 06 năm đến 07 năm tù; áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tý từ 05 năm đến 06 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết tại Bản án số 19/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn và bản án hình sự phúc thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau nên không đặt ra xem xét. Về vật chứng không có.

- Bị cáo Quý trình bày: Đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về phụ giúp gia đình.

- Bị cáo Tý trình bày: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình.

- Bà M trình bày: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Quý vì Quý nay là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Năm Căn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng theo quy định của pháp luật.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Quý, bị cáo Tý là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa, nên có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn trong giao nhận hàng hóa giữa nhóm bốc vác gồm Nguyễn Văn Cung, Lê Phú Q, Trần Văn Mẫn, Trần Văn T với Đặng Văn N (là phụ xe của nhà xe Tuấn Hiệp) nên vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại khu vực trước phòng vé nhà xe Tuấn Hiệp, trong lúc cự cãi Cung và Mẫn xông vào dùng tay, chân đánh Nhật. Nhật bỏ chạy thì bị Quý cầm cây gậy bóng chày đánh trúng vào đầu của Nhật 01 cái làm Nhật bất tỉnh ngã xuống nền gạch. Lúc này, Quý tiếp tục dùng cây gậy bóng chày đánh vào người Nhật 02 cái, còn Nguyễn Văn Cung và Trần Văn T cũng xông vào dùng chân, tay đánh nhiều cái vào người Nhật gây thương tích thì được mọi người can ngăn.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 03/TgT-21 ngày 31/12/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tích bị hại Nhật: Sạm da vùng thái dương phải, kích thước 2,5cmx1,8cm; nứt sọ thái dương phải; tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương phải; gãy cung gò má phải. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là: 32%.

Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý cùng thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại nên có đủ yếu tố cấu thành đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với Nguyễn Văn Cung đã bị Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử tại Bản án số 19/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 và bản án hình sự phúc thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đối với bị cáo Lê Phú Q và Trần Văn T sau khi gây án bỏ trốn và bị bắt lại vào ngày 11/12/2021, đến nay Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đưa ra xét xử.

Xét thấy: Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, chỉ vì mâu thuẫn trong việc giao nhận hàng hóa mà các bị cáo đã không kiềm chế được bản thân, dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến hậu quả là làm tổn hại sức khỏe của bị hại Nhật là 32%.

Bản thân hai bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo Quý đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong bị cáo lại tiếp tục có hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác bị xử phạt hành chính 2.500.000 đồng chưa nộp phạt; bị cáo Tý có hành vi đánh nhau bị xử phạt hành chính 750.000 đồng chưa nộp phạt. Qua đó cho thấy hai bị cáo chưa có thái độ sửa đổi mà lại phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Sau khi gây án, hai bị cáo lại bỏ trốn. Vì vậy, việc áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc đối với hai bị cáo là cần thiết.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng cho từng bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết giảm nhẹ: Hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo có người thân tham gia cách mạng; ngày 19/5/2022, bị cáo Quý tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nhật thêm số tiền 20.000.000 đồng nên áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Quý và áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Tý.

Tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đối với bị cáo Quý dùng gậy bóng chày là hung khí nguy hiểm liên tiếp đánh vào người bị hại Nhật nên mức hình phạt của bị cáo Quý phải nặng hơn bị cáo Tý dùng chân tay đánh Nhật.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn và bản án hình sự phúc thẩm số 21/2022/HS-ST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, đã có hiệu lực pháp luật nên không đặt ra xử lý.

Đối với đối tượng Trần Văn Mẫn hiện nay không làm việc nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng: Không có.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Lê Phú Q, Trần Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vắng mặt tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Phú Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Phú Q 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2021.

2. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2021.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Phú Q và Trần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, hai bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ