vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng khoản 3, 4 Điều 123 Bộ luật tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn An - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BÉN TRE
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 31/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Đạo.

2. Ông Trần Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN TẤN A, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1999 tại tỉnh Bến Tre.

Nơi đăng ký thường trú và sinh sống hiện nay: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị N; Bị cáo có 01 người anh sinh năm 1996. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không. Tiền sự: Không.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/5/2022 theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 07/2022/HSST-LCĐKNCT ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Văn D, sinh năm 1959 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp V, xã Đ, huyện B, tỉnh T.

Ông Nguyễn Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 25/5/2022.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T.

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 23/01/2022, bị cáo Nguyễn Tấn A điều khiển xe gắn máy biển số 71AB-018.38, loại xe Wave, nhãn hiệu VIETTHAI, màu đen lưu thông từ nhà thuộc ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T đến nhà bạn tên D ở lộ 19 xã V chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì bị cáo A ra về, trên đường đi về bị cáo A nảy sinh ý định tìm người bán vé số để cướp giật vé số, nếu trúng thưởng sẽ tiêu xài cá nhân. Bị cáo A đã nhìn thấy ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959, cư trú: Ấp V, xã Đ, huyện B, tỉnh T đang chạy xe đạp ngược chiều bán vé số nên bị cáo A đã quay xe lại và dừng xe giả vờ hỏi mua vé số. Ông D đưa 115 tờ vé số gồm các đài Thành phố Hồ Chí Minh số 520017, đài Đồng Tháp số 697780, 582654, 904025, đài Cà Mau số 935265, 187483, 725148, 766757, 025122, 640801, 813632, 825174 không rõ mỗi loại bao nhiêu tờ, mở thưởng ngày 24/01/2022 cho bị cáo A. Bị cáo A cầm 115 tờ vé số rồi tăng ga tẩu thoát về nhà cất giấu vé số. Ông D truy hô nhưng không đuổi kịp. Đến chiều ngày 24/01/2022, An dò kết quả xổ số trúng được 11 tờ vé số đài Cà Mau số 766757, giải thưởng 100.000 đồng/01 tờ nên A cất giữ, những tờ vé số không trúng bị cáo A vứt bỏ xuống sông gần nhà.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL–HĐĐG ngày 08/02/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bình Đại kết luận: 115 tờ vé số kiến thiết các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau ngày mở thưởng thứ hai ngày 24/01/2022 tại thời điểm bị giật có giá trị là 1.150.000 đồng.

Vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn A:

- 11 tờ vé số có dãy số 766757 đài Cà Mau mở thưởng ngày 24/01/2022.

- 01 (Một) xe gắn máy nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe Wave, số khung RMN1CBBN4MH005319, số máy VHL139FMBVTE005139, biển số 71AB-018.38.

- 01 (Một) đôi dép nhựa, quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “HA”.

- 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng nâu, trên mũ có chữ “HEAD HUỲNH THÀNH”.

- 01 (Một) quần tây bằng vải, màu đen.

- 01 (Một) áo sơ mi bằng vải, tay dài, màu xanh, sọc ca rô trên áo có chữ “MR KEN”.

Ngày 27/01/2022, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Bình Đại đã trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn D 11 tờ vé số có dãy số 766757 đài Cà Mau mở thưởng ngày 24/01/2022 trúng thưởng giải 8. Ngày 20/4/2022, bị cáo Nguyễn Tấn A đã bồi thường cho bị hại ông D số tiền 1.150.000 đồng. Ông D không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo An.

Tại Bản Cáo trạng số 10/CT-VKSND ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn A về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo A và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171, các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A từ 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại ông Nguyễn Văn D đã nhận tài sản là 11 tờ vé số có dãy số 766757 đài Cà Mau mở thưởng ngày 24/01/2022, nhận tiền bồi thường thiệt hại của bị cáo và không có yêu cầu gì khác.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe gắn máy nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe Wave, số khung RMN1CBBN4MH005319, số máy VHL139FMBVTE005139, biển số 71AB-018.38 đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) đôi dép nhựa, quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “HA”; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng nâu, trên mũ có chữ “HEAD HUỲNH THÀNH”; 01 (Một) quần tây bằng vải, màu đen; 01 (Một) áo sơ mi bằng vải, tay dài, màu xanh, sọc ca ro trên áo có chữ “MR KEN”. Đây là các tài sản của bị cáo, tại phiên Tòa sơ thẩm bị cáo có yêu cầu nhận lại nên đề nghị giao trả cho bị cáo.

Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 25/5/2022, bị hại ông Nguyễn Văn D ý kiến: Ông đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, ông xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Tấn A tự bào chữa: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.

Bị cáo Nguyễn Tấn A nói lời sau cùng: Bị cáo gửi lời xin lỗi bị hại ông Nguyễn Văn D và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Bình Đại, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng, bị cáo không có ý kiến gì. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt bị hại, những người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại, những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, những người làm chứng là phù hợp theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tấn A tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ sơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Tấn A do xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính nên khoảng 16 giờ đến khoảng 19 giờ ngày 23/01/2022, bị cáo Nguyễn Tấn A điều khiển xe gắn máy biển số 71AB-018.38, loại xe Wave, nhãn hiệu VIETTHAI, màu đen lưu thông từ nhà thuộc ấp V, xã T, huyện B, tỉnh T đến nhà bạn chơi, trên đường đi về bị cáo đã cướp giật của ông Nguyễn Văn D 115 tờ vé số kiến thiết các đài Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau mở thưởng ngày thứ hai 24/01/2022 có giá trị là 1.150.000 đồng. Trong đó, có 11 tờ vé số có dãy số 766757 đài Cà Mau mở thưởng ngày 24/01/2022 trúng thưởng giải 8.

Bị cáo Nguyễn Tấn A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, có ý định từ trước, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Thủ đoạn bị cáo thực hiện là điều khiển xe gắn máy, khi phát hiện bị hại có tài sản là những tờ vé số cầm trên tay đi bán, giả vờ mua vé số được chủ sở hữu giao tài sản là 115 tờ vé số có giá trị thành tiền là 1.150.000 đồng thì bị cáo cầm lấy tài sản tăng ga tẩu thoát nhằm chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, Cáo trạng số 10/CT-VKSND ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn A về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo A là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ, mọi hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật đều phải bị xử lý. Song, xuất phát từ bản tính tham lam, chay lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ công sức nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để bất ngờ giật lấy tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát và mục đích tư lợi cá nhân. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nơi bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, sinh hoạt hằng ngày. Hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tấn A có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Tấn A có 02 tình tiết giảm nhẹ được hưởng là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị hại ông D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo A gây ra, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ các điều kiện áp dụng hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự cũng đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận ông Nguyễn Văn D đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại 1.150.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe gắn máy nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe Wave, số khung RMN1CBBN4MH005319, số máy VHL139FMBVTE005139, biển số 71AB-018.38 vì đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Trả cho bị cáo: 01 (Một) đôi dép nhựa, quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “HA”; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng nâu, trên mũ có chữ “HEAD HUỲNH THÀNH”; 01 (Một) quần tây bằng vải, màu đen và 01 (Một) áo sơ mi bằng vải, tay dài, màu xanh, sọc ca ro trên áo có chữ “MR KEN”. Đây là các tài sản của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo có yêu cầu nhận lại nên trả cho bị cáo là phù hợp.

Lời phát biểu luận tội và tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên Tòa sơ thẩm về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo A là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Tấn A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng khoản 3, 4 Điều 123 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Tấn A từ ngày tuyên án (31/5/2022) cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) xe gắn máy nhãn hiệu VIETTHAI, loại xe Wave, số khung RMN1CBBN4MH005319, số máy VHL139FMBVTE005139, biển số 71AB-018.38.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn An: 01 (Một) đôi dép nhựa, quai kẹp, màu đen, trên dép có chữ “HA”; 01 (Một) mũ bảo hiểm màu trắng nâu, trên mũ có chữ “HEAD HUỲNH THÀNH”; 01 (Một) quần tây bằng vải, màu đen và 01 (Một) áo sơ mi bằng vải, tay dài, màu xanh, sọc ca ro trên áo có chữ “MR KEN”. (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/5/2022 giữa Công an huyện Bình Đại và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại).

4. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tấn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên Tòa cũng có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ