vanban.org

Bản án 10/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Chí P 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2021. Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Chí P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2022/HS-ST
Ngày: 17-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ.

Ông Nguyễn Quốc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2021/HSST-QĐ ngày 17 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/HSST-QĐ ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Dương Chí P, sinh năm 1999 tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T và bà Phạm Thị Thúy B; tiền án: Bản án số 53/2020/HS-ST ngày 25 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo P 03 (ba) tháng 15 (mười lăm) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ ngày 12 tháng 6 năm 2021 đến ngày 15 tháng 6 năm 2021 tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 1, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Dương Chí P là công nhân của Công ty Ampacs tại khu phố S, thị trấn U, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07 tháng 6 năm 2021, P đang làm ca đêm ở tầng trệt khu A tại Công ty Ampacs. P đi bộ qua xưởng sản xuất để kiểm hàng, khi đi bộ qua khu vực tủ đồ cá nhân, P phát hiện 01 tủ dồ dán tên “A” là của Nguyễn Thị Hoài A, sinh năm 1992, trú tại xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai không khóa nên nảy sinh ý đồ trộm cắp tài sản. P mở tủ đồ ra phát hiện bên trong có 01 túi xách và 01 ví da. P mở ví da lấy tiền sau đó bỏ vào túi quần bên trái rồi bỏ ví da vào tủ và đóng lại. P vào nhà vệ sinh đếm số tiền vừa trộm được là 3.900.000 đồng.

Ngày 08 tháng 6 năm 2021, chị A phát hiện bị mất 3.900.000 đồng nên báo Đồn Công an khu công nghiệp Bàu Bàng. Qua trích xuất đoạn camera phát hiện P đã trộm 3.900.000 đồng. Đồn Công an khu công nghiệp Bàu Bàng mời P về làm việc. Tại đây, P khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P thừa nhận sự việc phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.

Bị hại A vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra, truy tố bị hại A không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Theo Biên giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 12 tháng 6 năm 2021 (bút lục số 06), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã tạm giữ của Dương Chí P số tiền 3.000.000 đồng.

Theo Bì thư niêm phong ngày 08 tháng 7 năm 2021, Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã tiến hành niêm P 01 cái USB có chữ Sandisk chứa 02 video hoạt động của Công ty Ampacs nơi làm việc của bị cáo P cung cấp .

Về xử lý vật chứng:

Số tiền 3.000.000 đồng là tản sản hợp pháp của bị hại A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã trả lại cho bị hại A theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05 tháng 7 năm 2021 (bút lục số 90); chị A đã nhận lại 3.000.0000 đồng; chị A tiếp tục yêu cầu P trả lại 900.000 đồng.

Tại Biên bản làm việc ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương, chị A không yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 900.000 đồng còn lại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Bị hại A vắng mặt tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố, bị hại A không có ý kiến gì về về các vấn đề trên.

Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 54/CT-VKSBB ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dương Chí P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt tù bị cáo P từ 08 (tám) tháng đến 10 (tháng) tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 900.000 đồng là tiền bị cáo P lén lút, chiếm đoạt của bị hại A. Trong quá trình xét xử chị A không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với 01 cái USB có chữ Sandisk chứa 02 video hoạt động của Công ty Ampacs nơi làm việc của bị cáo P cung cấp là chứng cứ của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Bị hại A vắng mặt tại phiên tòa nhưng không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: vào hồi 14 giờ ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại tầng trệt khu A tại Công ty Ampacs, bị cáo đã có hành vi lén lút chiết đoạt số tiền 3.900.000 đồng của bị hại A. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.

Vì tham lam, muốn hưởng thụ nhưng lại lười lao động và muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng nên đã cố ý phạm tội. Xét về yếu tố l i, bị cáo phạm tội với l i cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2020, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Do đó, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: ngày 05 tháng 7 năm 2021, Cơ quan điều tra huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho bị hại A số tiền 3.000.000 đồng, xét phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: tại biên bản làm việc ngày 11 tháng 11 năm 2021, chị A không yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền 900.000 đồng còn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố bị cáo Dương Chí P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Dương Chí P 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.

Về án phí: bị cáo Dương Chí P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ