vanban.org

Bản án 10/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nụy.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nụy thuận tình ly hôn với anh Phan Thanh Hậu. Về con chung: Giao bé Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012 cho chị Nguyễn Thị Nụy trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hậu không cấp dưỡng nuôi con. Anh Hậu được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nụy.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/02/2022
“V/v T/c ly hôn và nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Phi Hùng;

Ông Sơn Mứt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.

Trong ngày 09 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 153/2021/TLST-HNGĐ, ngày 25/6/2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01A/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nụy, sinh năm 1989 – Xin vắng mặt.

Địa chỉ: Số 322, ấp Phước Tiến, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh

Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Phan Thanh Hậu, sinh năm 1988 – Xin vắng mặt;

Địa chỉ: 256/254, Lê Văn Vị, Tổ 10, Khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 23 tháng 6 năm 2021 và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 02/11/2021, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nụy trình bày: Vào tháng 6/2011, chị Nụy và anh Phan Thanh Hậu quen biết và tiến tới hôn nhân. Cả hai có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Nay là thị xã Bình Minh) theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17, quyển 01, ngày 06 tháng 02 năm 2012. Trong quá trình chung sống giữa chị Nụy và anh Hậu có một người con chung tên: Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012, hiện bé Nhi sống chung với chị Nụy. Chị Nụy và anh Hậu không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.

Chị Nụy cho rằng mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau làm cho cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Chị Nguyễn Thị Nụy nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được, đồng thời hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Nay chị Nụy yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh giải quyết các vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn anh Phan Thanh Hậu, sinh năm 1988; Địa chỉ: 256/254, Lê Văn Vị, Tổ 10, Khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Về con chung: Chị Nụy yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên: Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012, chị Nụy không yêu cầu anh Hậu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Do bận đi làm không đến theo giấy triệu tập của Tòa án được nên chị Nụy xin vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời chị Nụy cam kết không có bất cứ khiếu nại gì về sau.

* Tại bản tự khai đề ngày 19/01/2022 của bị đơn anh Phan Thanh Hậu trình bày: Vào năm 2011, anh Hậu và chị Nụy quen biết và tiến tới hôn nhân. Cả hai có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Nay là thị xã Bình Minh) theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 17, quyển 01, ngày 06 tháng 02 năm 2012. Trong quá trình chung sống giữa anh Hậu và chị Nụy có một người con chung tên: Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012, hiện bé Nhi sống chung với chị Nụy. Anh Hậu và chị Nụy không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung. Nay chị Nụy xin ly hôn, anh Hậu có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Anh Hậu đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Nụy.

- Về con chung: Anh Hậu đồng ý cho chị Nụy trực tiếp nuôi con chung tên: Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012, anh Hậu không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Hậu không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Do bận đi làm xa nên không về theo giấy triệu tập của Tòa án được nên anh Hậu xin vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai tài liệu chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời anh Hậu cam kết không có bất cứ khiếu nại gì về sau.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn: Xin vắng mặt.

- Bị đơn: Xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Bị đơn có đăng ký thường trú tại thị xã Bình Minh, nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh theo quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Chị Nguyễn Thị Nụy và anh Phan Thanh Hậu có đơn xin Tòa án giải quyết vắng mặt nên phiên Tòa hôn nhân sơ thẩm được tiến hành vào ngày 09/02/2022 theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 1, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Nụy và anh Phan Thanh Hậu được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đã là vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình được quy định tại khoản 1, Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Trong cuộc sống hôn nhân của chị Nụy và anh Hậu thường xuyên xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm và thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, hiện tại giữa chị Nụy và anh Hậu đã ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Đồng thời tại bản tự khai đề ngày 19 tháng 01 năm 2022, anh Hậu đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Nụy. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nụy và anh Hậu là phù hợp quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nụy và anh Phan Thanh Hậu có một người con chung tên: Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012. Chị Nụy yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Hậu cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị Nụy và ý kiến của anh Hậu đồng ý giao cho chị Nụy trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh Hậu không cấp dưỡng nuôi con.

Xét ý kiến của bé Phan Thị Yến Nhi tại bản tự khai đề ngày 23/6/2021, bé Nhi có nguyện vọng được sống chung với chị Nguyễn Thị Nụy.

Hội đồng xét xử nhận định như sau: Để đảm bảo cho việc phát triển về thể chất, tinh thần của bé Phan Thị Yến Nhi, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Nụy giao bé Phan Thị Yến Nhi cho chị Nụy trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, anh Hậu không cấp dưỡng nuôi con. Anh Hậu được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nụy và anh Hậu không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, chị Nguyễn Thị Nụy là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39,147 và khoản 1, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 9, Điều 19, Điều 55 và Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nụy.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nụy thuận tình ly hôn với anh Phan Thanh Hậu.

2. Về con chung: Giao bé Phan Thị Yến Nhi, sinh ngày 16/02/2012 cho chị Nguyễn Thị Nụy trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hậu không cấp dưỡng nuôi con. Anh Hậu được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Nụy phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Nụy được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010909, ngày 25/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh. Vậy chị Nụy đã nộp xong án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ